🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]
Trang chủ›Dương Bá Trạc
D
📜 Tác giả kinh điển

Dương Bá Trạc

Khác🎂 1884–1944· Làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Chí sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục (1884–1944), anh trai học giả Dương Quảng Hàm, thơ văn yêu nước, mất khi bị lưu đày Singapore.

13

Tác phẩm

0

Lượt đọc

0

Lượt thích

0

Theo dõi

112

Chương

Tiểu sử

🎂 Sinh 1884 · Làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên🕊️ Mất 1944 · Singapore

Dương Bá Trạc sinh ngày 27 tháng 3 năm Giáp Thân, tức 22 tháng 4 năm 1884, tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình nho học có truyền thống yêu nước. Thân phụ ông là cụ Dương Trọng Phổ, một nhà nho có tư tưởng tiến bộ; hai em trai ông là Dương Quảng Hàm, học giả và nhà giáo dục nổi tiếng với công trình "Việt Nam văn học sử yếu", và Dương Tụ Quán, cũng là một nhà giáo. Dương Bá Trạc nổi tiếng thông minh từ nhỏ, năm 16 tuổi (1900) đã đỗ Cử nhân Hán học, được xem là một trong những trí thức trẻ xuất sắc của Bắc Kỳ đầu thế kỷ 20.

Đầu những năm 1900, chịu ảnh hưởng của phong trào Duy Tân và tư tưởng canh tân đất nước lan tỏa từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Dương Bá Trạc từ bỏ con đường khoa cử truyền thống để dấn thân vào hoạt động duy tân, truyền bá chữ Quốc ngữ và tư tưởng tân học. Cuối năm 1906 đầu năm 1907, ông cùng Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí và một số sĩ phu khác đứng ra sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại số 4 Hàng Đào, Hà Nội, khai giảng tháng 3 năm 1907. Trong trường, Lương Văn Can giữ chức Thục trưởng, Nguyễn Quyền làm Học giám; Dương Bá Trạc phụ trách giảng dạy Hán văn cùng Hoàng Tăng Bí, đồng thời tham gia Ban Tu thư (biên soạn sách giáo khoa, dịch thuật) cùng Phạm Tư Trực, Lương Trúc Đàm. Cùng giảng dạy tại trường trong ban Việt văn và Pháp văn còn có Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học, những gương mặt tiêu biểu khác của phong trào tân học buổi giao thời.

Tháng 12 năm 1907, thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục vì lo ngại ảnh hưởng chính trị của trường. Dương Bá Trạc tiếp tục hoạt động vận động duy tân, liên lạc đưa thanh niên yêu nước xuất dương. Năm 1908, nhân vụ "Hà thành đầu độc", ông bị thực dân Pháp bắt giữ, kết án 15 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo, giam giữ khoảng 20 tháng trong điều kiện khắc nghiệt. Năm 1910, Toàn quyền Đông Dương ân giảm một số tù nhân chính trị ở Côn Đảo và đưa họ về an trí tại Nam Kỳ; Dương Bá Trạc bị quản thúc tại Long Xuyên trong nhiều năm.

Ngày 16 tháng 1 năm 1917, ông được ân xá, trở về Hà Nội và bước hẳn sang con đường viết báo, làm văn hóa. Ông cộng tác với Nam Phong tạp chí cùng nhiều tờ báo khác như Thực Nghiệp Dân báo, Đông Tây báo, Trung Bắc Tân Văn, Tri Tân, ký nhiều bút hiệu trong đó có Tuyết Huy. Ông sáng tác thơ văn yêu nước, ngợi ca các anh hùng dân tộc, dịch thuật kinh điển Nho gia, đồng thời từ những năm 1930 tích cực tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan từng nhận xét ông là một trong những cây bút lỗi lạc của lớp nhà văn tiên phong đầu thế kỷ 20.

Cuối năm 1943, trong bối cảnh Nhật đảo chính ảnh hưởng Pháp tại Đông Dương, Dương Bá Trạc cùng học giả Trần Trọng Kim rời Hà Nội vào Sài Gòn, rồi bị quân đội Nhật đưa sang Singapore với hy vọng tìm con đường vận động độc lập cho Việt Nam, nhưng hoài bão không thành. Ông lâm bệnh ung thư phổi và qua đời tại Singapore ngày 26 tháng 10 năm Giáp Thân, tức 11 tháng 12 năm 1944, hưởng thọ 60 tuổi. Thi hài ông sau đó được hỏa táng để đưa tro cốt về nước. Cuộc đời Dương Bá Trạc, từ một nhà nho trẻ tuổi khoa bảng trở thành chiến sĩ duy tân, tù nhân chính trị Côn Đảo, rồi nhà báo, nhà thơ yêu nước, phản chiếu trọn vẹn một thế hệ trí thức Việt Nam bước ra từ Nho học để tìm đường cứu nước và canh tân văn hóa dân tộc.

Nguồn: Wikipedia

Cuộc đời & sự nghiệp

tác phẩm sự kiện
  1. 1884Sinh tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, con cụ Dương Trọng Phổ, anh ruột của Dương Quảng Hàm và Dương Tụ Quán.
  2. 1900Đỗ Cử nhân Hán học lúc 16 tuổi, nổi tiếng thần đồng khoa bảng.
  3. 1907Cùng Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và các sĩ phu sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hàng Đào, Hà Nội; phụ trách giảng dạy Hán văn và Ban Tu thư.
  4. 1907Trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa vào tháng 12.
  5. 1908Bị bắt liên quan vụ Hà thành đầu độc, kết án 15 năm khổ sai, đày đi Côn Đảo.
  6. 1910Được đưa từ Côn Đảo về an trí tại Long Xuyên (Nam Kỳ).
  7. 1917Được ân xá (16/1/1917), trở về Hà Nội, bắt đầu sự nghiệp báo chí, cộng tác Nam Phong tạp chí.
  8. 1922📖 Luận ngữ

    Bản dịch kinh điển Nho gia

  9. 1924📖 Trai lành gái tốt

    Truyện thơ

  10. 1925📖 Tiếng gọi đàn

    Tác phẩm văn xuôi/tiểu luận

  11. 1932📖 Gia lễ giản yếu

    Sách khảo cứu về lễ nghi gia đình

  12. 1934Tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ.
  13. 1937Xuất bản tập thơ Nét mực tình.
  14. 1937📖 Nét mực tình

    Tập thơ

  15. 1942📖 Chữ nho học lấy

    Sách khảo cứu Hán Nôm

  16. 1943Cùng Trần Trọng Kim vào Sài Gòn rồi bị Nhật đưa sang Singapore.
  17. 1944Mất vì ung thư phổi tại Singapore ngày 11/12/1944 (26/10 Giáp Thân).

🏛️ Bối cảnh thời đại

Giai đoạn văn học chữ Quốc ngữ buổi đầu và phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20 tại Việt Nam, gắn liền với Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), giao thời giữa Nho học và tân học, thơ văn yêu nước cổ vũ tinh thần dân tộc dưới ách thực dân Pháp.

Tác phẩm (13)

Tác phẩm tiêu biểu khác

Khóc Lương Ngọc Quyến

Bài thơ điếu người đồng chí Lương Ngọc Quyến (con Lương Văn Can) hy sinh trong khởi nghĩa Thái Nguyên 1917

Qua sông Bạch Đằng

Thơ vịnh sử, ca ngợi chiến công trên sông Bạch Đằng

Vịnh Hai Bà Trưng

Thơ vịnh danh nhân lịch sử, ca ngợi Hai Bà Trưng

Vịnh Triệu Ẩu

Thơ vịnh Bà Triệu (Triệu Thị Trinh)

Tác giả cùng thời & mối liên hệ

Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.

Người cùng thời

Nguyễn Văn Vĩnhtrong thư viện

Cùng giảng dạy tại Đông Kinh Nghĩa Thục 1907 (Vĩnh phụ trách Việt văn/Pháp văn, Trạc phụ trách Hán văn)

Phạm Duy Tốntrong thư viện

Cùng giảng dạy tại Đông Kinh Nghĩa Thục 1907, ban Việt văn/Pháp văn, đồng sự với Dương Bá Trạc trong phong trào duy tân

Nguyễn Bá Họctrong thư viện

Cùng giảng dạy tại Đông Kinh Nghĩa Thục 1907 (Việt văn/Pháp văn), đồng sự cùng thế hệ trí thức duy tân với Dương Bá Trạc

Trần Trọng Kimtrong thư viện

Cùng biên soạn Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931); cùng bị hiến binh Nhật đưa sang Singapore cuối năm 1943

Phan Kế Bínhtrong thư viện

Cùng phụ trách mục dịch thuật, khảo cứu chữ Hán trên Đông Dương Tạp Chí