Nguyễn Hữu Tiến
Bút danh Đông Châu (1875–1941), dịch giả "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, biên khảo về Hồ Xuân Hương, 17 năm biên tập Nam Phong tạp chí.
3
Tác phẩm
0
Lượt đọc
0
Lượt thích
0
Theo dõi
99
Chương
Tiểu sử
Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1875 tại làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Bắc Từ Liêm, Hà Nội, một trong những làng khoa bảng nổi tiếng đất Thăng Long. Ông là cháu nội của Nguyễn Hữu Tạo, người đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1844, xuất thân trong một gia đình Nho học lâu đời nên được hấp thụ nền tảng Hán học vững chắc ngay từ nhỏ. Ông lấy hiệu là Đông Châu, bút danh gắn liền với sự nghiệp trước tác của mình. Cần phân biệt ông với một Nguyễn Hữu Tiến khác cùng thời đại sau này, là nhà cách mạng tham gia phác thảo lá cờ đỏ sao vàng, không liên quan đến nhân vật học giả này.
Buổi đầu sự nghiệp, Nguyễn Hữu Tiến làm phiên dịch cho nhà in Đông Kinh ấn quán ở Hà Nội, nơi ông có dịp tiếp xúc với công việc chuyển ngữ và xuất bản sách vở bằng chữ quốc ngữ. Năm 1916, ông soạn vở tuồng "Đông A song phụng". Đến năm 1917, ông công bố "Giai nhân di mặc", công trình biên khảo đầu tiên tập hợp có hệ thống sự tích và thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, do Đông Kinh ấn quán ấn hành tại Hà Nội. Đây là một trong những nguồn tư liệu sớm nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất định hình cách hậu thế biết đến cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Hồ Xuân Hương, dù giới nghiên cứu sau này có tranh luận về mức độ xác thực của một số chi tiết tiểu sử trong sách.
Cũng năm 1917, Nguyễn Hữu Tiến gia nhập Ban biên tập tạp chí Nam Phong ngay từ số đầu, cùng với Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Học, Phan Khôi, Tản Đà, Hoàng Tích Chu và Nguyễn Mạnh Bổng. Ông gắn bó với Nam Phong suốt 17 năm cho đến khi tạp chí đình bản năm 1934, chuyên khảo cứu, biên soạn và dịch thuật về lịch sử, địa lý, phong tục, luân lý, tôn giáo và văn chương của Việt Nam và Trung Hoa. Phần lớn công trình của ông đăng nhiều kỳ trên Nam Phong trước khi được tập hợp in thành sách riêng. Ông là một trong những người đầu tiên có công sưu tầm, tuyển chọn và công bố thơ văn cổ Việt Nam trên báo chí quốc ngữ, tiêu biểu là bộ "Cổ xúy nguyên âm" giảng về luật thơ cổ kèm một trăm bài thơ mẫu, đăng nhiều kỳ trên Nam Phong từ khoảng 1916-1918. Năm 1925, ông cùng Lê Thành Ý biên soạn "Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa", một trong những tuyển tập văn học Việt Nam có chú giải sớm nhất dùng cho việc giảng dạy.
Về mảng Hán học, từ 1924 đến 1931 ông dịch và giải nghĩa "Mạnh Tử quốc văn giải thích" đăng dài kỳ trên Nam Phong, giúp phổ biến kinh điển Nho gia đến độc giả quốc ngữ không còn thông thạo chữ Hán. Từ 1931 đến 1933, ông cùng đồng nghiệp Nguyễn Đôn Phục (hiệu Tùng Vân) tiếp tục dịch giải "Luận ngữ quốc văn giải thích". Đóng góp được nhắc đến nhiều nhất của ông với văn học cổ điển Việt Nam là bản dịch quốc ngữ "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ, đăng trên Nam Phong các năm 1927-1928, đưa tập tùy bút chữ Hán cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 này đến với đông đảo độc giả hiện đại lần đầu tiên.
Sau khi Nam Phong đình bản năm 1934, thông tin về hoạt động của ông trong những năm cuối đời khá thưa thớt trong tư liệu hiện có. Ông mất năm 1941 tại Hà Nội, thọ 66 tuổi. Cùng với những người như Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến được nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xuyên xem là một trong những cây bút biên khảo chủ lực làm nên diện mạo học thuật của Nam Phong tạp chí.
Nguồn: Wikipedia
Cuộc đời & sự nghiệp
tác phẩm sự kiện- 1875Sinh tại làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay Bắc Từ Liêm, Hà Nội), cháu nội tiến sĩ Nguyễn Hữu Tạo (khoa 1844), xuất thân Nho học
- 1916Soạn vở tuồng "Đông A song phụng"
- 1916📖 Đông A song phụng
Vở tuồng
- 1917Xuất bản "Giai nhân di mặc" biên khảo về Hồ Xuân Hương; gia nhập Ban biên tập tạp chí Nam Phong ngay từ số đầu
- 1917📖 Giai nhân di mặc
Công trình biên khảo đầu tiên hệ thống hóa sự tích và thơ Hồ Xuân Hương, nguồn tư liệu tiểu sử chính về bà cho hậu thế (một số bản in ghi 1916)
- 1918Hoàn thành phần lớn "Cổ xúy nguyên âm" giảng luật thơ cổ kèm 100 bài mẫu, đăng nhiều kỳ trên Nam Phong (khởi đăng từ 1916)
- 1918📖 Cổ xúy nguyên âm
Giảng về luật thơ cổ kèm 100 bài thơ mẫu, đăng nhiều kỳ trên Nam Phong từ khoảng 1916
- 1924Bắt đầu dịch giải "Mạnh Tử quốc văn giải thích" đăng dài kỳ trên Nam Phong (đến 1931)
- 1924📖 Mạnh Tử quốc văn giải thích
Dịch và giải nghĩa sách Mạnh Tử, đăng dài kỳ trên Nam Phong đến 1931
- 1925Cùng Lê Thành Ý biên soạn "Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa"
- 1925📖 Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa
Đồng biên soạn với Lê Thành Ý, tuyển tập văn học Việt Nam có chú giải dùng để giảng dạy
- 1927Dịch "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ ra quốc ngữ, đăng trên Nam Phong (đến 1928)
- 1927📖 Vũ trung tùy bút (dịch)
Dịch quốc ngữ tập tùy bút chữ Hán của Phạm Đình Hổ, đăng trên Nam Phong 1927-1928
- 1931Cùng Nguyễn Đôn Phục dịch giải "Luận ngữ quốc văn giải thích" (đến 1933)
- 1931📖 Luận ngữ quốc văn giải thích
Đồng dịch giải với Nguyễn Đôn Phục, đăng trên Nam Phong đến 1933
- 1934Kết thúc 17 năm gắn bó với Ban biên tập Nam Phong khi tạp chí đình bản
- 1941Mất tại Hà Nội, thọ 66 tuổi
🏛️ Bối cảnh thời đại
Nguyễn Hữu Tiến thuộc lớp trí thức Nho học giao thời, chuyển từ Hán văn sang chữ quốc ngữ trong bối cảnh phong trào chấn hưng quốc văn và dịch thuật cổ văn đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam thuộc địa. Sự nghiệp của ông gắn liền với Nam Phong tạp chí (1917-1934), do Phạm Quỳnh sáng lập dưới sự bảo trợ của chính quyền Pháp, chủ trương "bàn văn luận đạo", dung hòa cựu học và tân học, vừa giới thiệu tư tưởng Âu Tây vừa nỗ lực bảo tồn di sản Hán Nôm bằng cách dịch và chú giải ra quốc ngữ. Trong bối cảnh chữ quốc ngữ dần thay thế chữ Hán-Nôm làm văn tự chính của báo chí và giáo dục, những người như Nguyễn Hữu Tiến đóng vai trò cầu nối, dịch và phổ biến kinh điển Nho gia (Tứ Thư), văn xuôi trung đại (Vũ trung tùy bút) và di sản thơ ca cổ (thơ Hồ Xuân Hương, thơ luật Đường) đến lớp độc giả mới không còn đọc được chữ Hán, đồng thời góp phần định hình cách hậu thế nhận thức về nhiều danh nhân văn học cổ điển Việt Nam.
Tác phẩm (3)
Vũ trung tùy bút
Vũ trung tùy bút — Nguyễn Hữu Tiến.
Giai nhân di mặc
Giai nhân di mặc — Nguyễn Hữu Tiến.
Phật giáo với Nho giáo
Phật giáo với Nho giáo — Nguyễn Hữu Tiến.
Tác giả cùng thời & mối liên hệ
Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.
Cùng nhóm / trào lưu
Cùng trong Ban biên tập tạp chí Nam Phong từ số đầu năm 1917 đến khoảng 1922
Cùng trong Ban biên tập tạp chí Nam Phong từ số đầu năm 1917 đến khoảng 1922
Cùng trong Ban biên tập tạp chí Nam Phong; Nguyễn Bá Học đăng truyện ngắn trên Nam Phong số 116 (1920) cùng thời kỳ Nguyễn Hữu Tiến công tác tại đây
Ảnh hưởng
Viết "Giai nhân di mặc" (1917), công trình đầu tiên hệ thống hóa tiểu sử và thơ của bà, là nguồn tư liệu chính định hình cách hậu thế biết đến Hồ Xuân Hương
Người cùng thời
Cùng cộng tác với tạp chí Nam Phong giai đoạn giữa thập niên 1920 (Trần Trọng Kim viết loạt bài về Lão Tử từ số 67 năm 1923)