Huỳnh Mẫn Đạt
Danh sĩ Nam Kỳ (1807–1882), bạn thân Bùi Hữu Nghĩa, đồng tác giả tuồng "Kim Thạch kỳ duyên", thơ khí khái chống Pháp.
1
Tác phẩm
0
Lượt đọc
0
Lượt thích
0
Theo dõi
6
Chương
Tiểu sử
Huỳnh Mẫn Đạt sinh năm 1807 tại làng Tân Hội, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định, trong một gia đình Nho học ở vùng đất mới khai phá Nam Kỳ. Năm 1831, dưới triều Minh Mạng, ông đỗ Cử nhân khoa Tân Mão tại trường thi Gia Định, khi mới 24 tuổi, mở đầu con đường khoa hoạn kéo dài hơn hai mươi năm.
Sự nghiệp quan trường của ông trải qua nhiều thăng trầm và gắn liền với vùng biên viễn phía Tây Nam. Năm 1839, ông giữ chức Thực Ngự sử đạo Ninh Thái, coi vùng Bắc Ninh, Thái Nguyên. Năm 1840, khi được cử quyền Thực Án sát Hà Tiên, ông từng đốc suất binh lính đánh giặc ở Tân Thạnh chống quân Xiêm quấy nhiễu biên giới và bị thương trong trận này. Năm 1842, ông được thăng thự Án sát sứ tỉnh Hà Tiên, rồi năm 1851 lên chức Tuần phủ Hà Tiên, được dân gian quen gọi là Tuần phủ Đạt. Tuy nhiên ngay sau đó, năm 1851-1852, ông bị cách chức cùng Án sát Nguyễn Quỳnh vì liên quan đến một vụ án ẩn lậu thuốc phiện tại địa phương. Năm 1859, khi giữ chức Án sát Định Tường, ông bị bắt giải về kinh vì để mất thành Mỹ Tho vào tay quân Pháp, song sau đó được tha.
Biến cố lớn nhất đời ông là cuộc xâm lược của thực dân Pháp vào Nam Kỳ. Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, triều đình nhà Nguyễn cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, ông chán nản cáo quan, lui về Hà Tiên rồi Rạch Giá ở ẩn, sống đời một nhà Nho tiết tháo giữa buổi nước mất nhà tan. Từ đây ông dồn tâm sức vào thơ văn, dùng ngòi bút làm vũ khí bày tỏ lòng yêu nước và khí tiết bất khuất. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của nhóm sĩ phu Nam Kỳ kháng Pháp bằng văn chương, cùng thời và có giao du với Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu.
Huỳnh Mẫn Đạt tham gia cuộc bút chiến nổi tiếng công kích Tôn Thọ Tường, một sĩ phu ra làm quan cộng tác với Pháp. Giai thoại kể rằng trong một buổi hòa nhạc Tây có mặt Tôn Thọ Tường, ông không thèm giáp mặt và làm thơ châm biếm với hai câu nổi tiếng: "Đã cam bịt mặt cùng trời đất, Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe", ngụ ý khinh miệt kẻ đã cúi đầu theo giặc. Tác phẩm được biết đến rộng rãi nhất của ông là bài thơ Nôm "Điếu Nguyễn Trung Trực" viết năm 1868 khóc thương người anh hùng đánh chìm tàu Espérance và đánh đồn Kiên Giang, với hai câu để đời: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa, Kiếm bạt Kiên Giang khốc quỷ thần". Ngoài ra ông còn để lại một số bài thơ Nôm khác như "Cây dừa", "Chó già", mang giọng điệu ngụ ngôn, phúng thích thời cuộc.
Về mặt sáng tác tuồng, ông là bạn thân thiết của Bùi Hữu Nghĩa, người đỗ Thủ khoa và cũng là quan lại triều Nguyễn, và có đóng góp cho việc hoàn thiện vở tuồng Nôm nổi tiếng "Kim Thạch kỳ duyên" của Bùi Hữu Nghĩa, một trong những vở tuồng đầu tiên của Nam Kỳ.
Huỳnh Mẫn Đạt mất vào tháng 2 âm lịch năm Nhâm Ngọ, tức khoảng tháng 3 năm 1882, thọ 75 tuổi, theo văn bia mộ còn lưu lại. Mộ và đền thờ ông hiện đặt tại đường Lâm Quang Ky, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1994. Ông được hậu thế nhớ đến như một nhà thơ yêu nước, một nhân cách khí tiết tiêu biểu của tầng lớp sĩ phu Nam Kỳ thời kháng Pháp buổi đầu, dù con đường quan trường của ông có nhiều lận đận, thăng giáng thất thường.
Nguồn: Wikipedia
Cuộc đời & sự nghiệp
tác phẩm sự kiện- 1807Sinh tại làng Tân Hội, huyện Tân Long, tỉnh Gia Định
- 1831Đỗ Cử nhân khoa Tân Mão tại trường thi Gia Định, dưới triều Minh Mạng
- 1839Giữ chức Thực Ngự sử đạo Ninh Thái (Bắc Ninh, Thái Nguyên)
- 1840Quyền Thực Án sát Hà Tiên, bị thương khi đánh quân Xiêm ở Tân Thạnh
- 1842Thăng thự Án sát sứ tỉnh Hà Tiên
- 1851Thăng Tuần phủ Hà Tiên, dân gian gọi là Tuần phủ Đạt
- 1852Bị cách chức vì liên quan vụ án ẩn lậu thuốc phiện
- 1859Làm Án sát Định Tường, bị giải về kinh vì để mất thành Mỹ Tho, sau được tha
- 1862Sau Hòa ước Nhâm Tuất, cáo quan lui về Hà Tiên/Rạch Giá ở ẩn, chuyên tâm thơ văn
- 1868Sáng tác bài thơ nổi tiếng "Điếu Nguyễn Trung Trực" khóc anh hùng Nguyễn Trung Trực
- 1868📖 Điếu Nguyễn Trung Trực
Bài thơ Nôm/Hán nổi tiếng nhất, khóc thương anh hùng Nguyễn Trung Trực, có hai câu để đời "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa, Kiếm bạt Kiên Giang khốc quỷ thần"
- 1882Mất tại Rạch Giá, thọ 75 tuổi (theo bia mộ)
- 1994Mộ và đền thờ ông tại Rạch Giá được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia
🏛️ Bối cảnh thời đại
Huỳnh Mẫn Đạt thuộc lớp nhà Nho Nam Kỳ trưởng thành trong buổi giao thời cuối triều Nguyễn độc lập và đầu thời Pháp thuộc. Ông là một trong những gương mặt của nhóm sĩ phu yêu nước dùng văn chương Nôm làm vũ khí kháng Pháp sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, cùng thời với Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa — đối lập trực diện với nhóm quan lại thân Pháp như Tôn Thọ Tường qua các cuộc xướng họa, bút chiến công khai bằng thơ.
Tác phẩm (1)
Tác phẩm tiêu biểu khác
Vở tuồng Nôm do Bùi Hữu Nghĩa soạn chính, Huỳnh Mẫn Đạt góp sức hoàn thiện; một trong những vở tuồng đầu tiên của Nam Kỳ
Thơ Nôm ngụ ngôn phúng thích
Thơ Nôm ngụ ngôn phúng thích thời cuộc
Gồm câu thơ nổi tiếng "Đã cam bịt mặt cùng trời đất, Đâu dám nghiêng mày với ngựa xe" trong cuộc bút chiến chống nhóm cộng tác với Pháp
Tác giả cùng thời & mối liên hệ
Bạn văn, nhóm/trào lưu, thầy trò, ảnh hưởng — liên kết tới các tác giả khác.
Bạn văn
Bạn thân, cùng soạn/hoàn thiện vở tuồng Nôm "Kim Thạch kỳ duyên"; cả hai đều là quan triều Nguyễn có khí tiết ở Nam Kỳ
Người cùng thời
Cùng thuộc nhóm sĩ phu Nam Kỳ tham gia cuộc bút chiến công kích Tôn Thọ Tường; không có bằng chứng trực tiếp về giao du cá nhân sâu, nhưng cùng chí hướng và cùng thời kỳ hoạt động
Cùng thuộc thế hệ nhà Nho yêu nước Nam Kỳ chống Pháp bằng văn chương sau 1862, cùng chung tinh thần khí tiết bất khuất
Đối thủ / bút chiến
Đối tượng bị Huỳnh Mẫn Đạt công kích trực tiếp bằng thơ trong cuộc bút chiến vì Tường ra làm quan cộng tác với Pháp; giai thoại kể ông từ chối giáp mặt Tường tại một buổi hòa nhạc và làm thơ châm biếm ngay sau đó