Sáng hôm sau bà Tú Vân dậy trước cô, nấu cơm, và khi cô ra tới bếp thì bà đã bày sẵn trên chiếu ba thứ: một cái gương nhỏ, một cuốn sổ đã sờn gáy, và cuộn chỉ đen của cô.
"Ăn đi đã." Bà nói. "Việc hôm nay không cần sức, nhưng cần cháu tỉnh."
Ăn xong, bà dẫn cô ra hiên, chỗ nắng sớm còn dịu. Bà ngồi xuống, ra hiệu cho cô ngồi đối diện, rồi đẩy cái gương về phía cô.
"Nhìn đi."
Nguyệt nhìn. Một người đàn bà hai mươi chín tuổi, tóc buộc thấp, một lọn bạc bên thái dương phải.
"Kể tôi nghe cháu thấy gì."
"Cháu thấy cháu."
"Chắc không?" Bà hỏi. "Nhìn kỹ vô. Một phút. Đừng nói gì hết."
Nguyệt ngồi nhìn mình trong cái gương nhỏ ấy đúng một phút, và một phút thì lâu hơn cô tưởng rất nhiều. Tới khoảng nửa phút, cái mặt trong gương bắt đầu thành mặt người khác, kiểu như khi ta đọc đi đọc lại một chữ tới lúc nó không còn nghĩa nữa.
"Thấy chưa." Bà nói, không phải câu hỏi. "Ai cũng thấy vậy hết, đừng sợ. Việc của cháu là mỗi sáng ngồi đúng một phút như vậy. Ngày nào cháu nhìn mà thấy lạ ngay từ giây đầu, không phải tới nửa phút, thì bậc năm tới rồi. Ngày đó cháu ngưng nhận ca, không bàn."
"Rồi làm sao ạ?"
"Không có làm sao hết." Bà đáp. "Ngưng thôi. Không có thuốc nào, không có bùa nào. Ai nói với cháu là có thì người đó bán hàng."
Bà mở cuốn sổ sờn gáy ra, lật tới một trang đã kín chữ, quay ngược lại đưa cho cô đọc.
Đó là chữ của một người đàn bà nào đó đã chết lâu rồi, ghi bằng bút mực, gạch xóa vài chỗ. Trên trang ấy là một danh sách: sau mỗi gút chết, nghỉ nửa tháng, không nhận ca mới dù ai tới van. Trước khi thắt bất cứ gút nào, tự hỏi ba lần có thật cần không. Không nhận hai ca gối nhau trong cùng một tuần trăng. Không thắt gút khi trong nhà có tang của chính mình.
"Cái cuối cùng là mẹ tôi thêm vô." Bà Tú Vân nói, chỉ vào dòng chữ khác nét. "Bà thêm sau khi ông ngoại tôi mất."
Nguyệt đọc lại dòng đó. Không thắt gút khi trong nhà có tang của chính mình.
Nếu dòng ấy có mặt trong nhánh nhà cô, thì đêm mẹ cô mất, đã có người cản cô lại.
"Cháu đang nghĩ gì tôi biết." Bà nói. "Đừng nghĩ nữa. Nhánh mình nghèo nên mới phải viết mấy dòng đó ra. Nhánh chị Sim khá hơn, người ta giữ trong đầu, rồi tới lúc cần thì không có ai còn sống để nhắc. Không phải lỗi của ai hết."
Bà đóng sổ lại, đẩy sang cho cô.
"Cầm về. Tôi chép lại rồi, sợ cháu về tới nơi là quên."
"Bà cho cháu luôn ạ?"
"Cho. Nghề này giờ còn mấy người, giữ khư khư làm gì." Bà xua tay. "Với lại tôi bảy mươi hai rồi cháu à. Cháu hai mươi chín. Sổ nằm nhà tôi thì sang năm nó thành giấy vụn, nằm nhà cháu thì còn có người giở ra."
Bà dừng lại một chút, rồi nói thêm, giọng gọn hơn.
"Còn cái này nữa, quan trọng hơn cả cuốn sổ. Cháu phải kiếm cho ra một người để nói. Không cần người trong nghề, không cần hiểu gì hết, chỉ cần chịu ngồi nghe. Người làm nghề này mà không có ai nghe thì đi nhanh lắm, tôi thấy nhiều rồi."
Nguyệt ngồi im. Bà không biết đêm qua cô vừa tiễn ai đi, và cô không kể.
Trưa, cô chuẩn bị lên đường về. Bà tiễn ra tận đầu dốc, nắm tay cô một lúc lâu trước khi buông ra.
"Có dịp ghé lại chơi nghen cháu. Đừng để mất liên lạc như tôi với mẹ cháu ngày xưa nữa. Giờ có số điện thoại rồi, tiện lắm."
"Dạ, cháu sẽ gọi." Cô hứa. Rồi cô nói thêm, vì cô vừa mới học được rằng có những câu để dành thì sẽ không bao giờ nói được nữa: "Cháu gọi thật đó bà. Không phải nói cho có."
Bà cười, đẩy vai cô một cái. "Ừ, biết rồi. Đi đi kẻo lỡ xe."
Về tới Cẩm Đôi mất trọn hai ngày. Xuống xe, việc đầu tiên cô thấy là băng rôn đỏ đầu ngõ, vẫn còn đó, thêm một dải mới treo chồng lên dải cũ: KHUYẾN MÃI THÁNG TÁM. Loa vẫn mở. Không có gì ở đây biết cô vừa đi đâu về.
Hạnh đứng đợi sẵn ở bến xe, chạy ùa tới ôm chầm lấy cô ngay khi vừa xuống, suýt làm rơi cả túi xách.
"Cô về rồi! Con lo muốn chết, gọi điện có nghe không rõ hết."
"Cô ổn." Cô nói, và lần này không phải nói dối.
Về tới tiệm, cô đặt cuốn sổ của bà Tú Vân lên bàn, cạnh cuốn sổ của mẹ cô. Hai cuốn nằm cạnh nhau trông không giống nhau chút nào: một cuốn giấy dày, chữ nghiêng; một cuốn giấy mỏng, chữ đứng. Hai nhánh của cùng một nghề, xa nhau mấy đời, giờ nằm chung một mặt bàn.
Cuộn chỉ đen vẫn trong hộp thiếc. Nhẹ hơn trước một chút. Vẫn còn đủ.
Tối đó, cô ngồi vào bàn, châm đèn, và ngồi rất lâu mà không viết được chữ nào.
Suốt mười một năm, mỗi lần kể lại một ca, cô vẫn luôn kể cho một người. Giờ người ấy đi rồi. Cô ngồi trước cuốn sổ và lần đầu tiên không biết mình đang nói với ai.
Rồi có tiếng chốt cửa sau va nhẹ vào khung, cái tiếng của người cố đi khẽ mà vẫn làm lộp cộp. Cô không cần ngoái lại cũng biết là ai.
"Cô chưa ngủ hả? Con thấy đèn còn sáng." Hạnh chui vào, tay còn cầm hộp cơm nguội để phần cô.
Con bé kéo ghế ngồi xuống đối diện, chống cằm, chờ. Nó không hỏi cô đi đâu về, không hỏi xong việc chưa. Nó chỉ ngồi đó, giữ đúng cái ranh giới cô vạch ra hôm trước, và chờ cô nói nếu cô muốn nói.
Tay nó đặt trên mặt bàn. Vẫn lạnh. Chuyện đó không tự hết được, và cô biết mình còn phải xử lý nó.
Nhưng tối đó cô chưa xử lý gì cả. Cô kéo cuốn sổ lại gần, giở một trang trắng, và bắt đầu kể cho nó nghe về một cái đêm mùng bốn, mười một giờ khuya, có người gõ cửa ba tiếng đều tăm tắp.
Nguyệt kể chậm, đúng từng số đo. Con bé ngồi nghe, không ngắt lời một lần nào.
Kim đi một chiều. Nhưng lời thì không, lời còn quay lại được, miễn là còn có người ngồi lại mà nghe.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Bạn đã đọc hết truyện ✨