Bàn thờ kê cao ngang vai, đóng bằng ván ép dán giấy vân gỗ, đặt sát vách trong cùng để tránh gió biển thổi qua cửa sổ. Trên mặt bàn có sáu thứ, và Ngần đếm hết sáu thứ đó trong lúc tháo dép bước lên nền nhà.
Bát hương là thứ đáng nhìn nhất. Chân nhang cắm đầy tới miệng, dày tới mức muốn cắm thêm cây nữa phải xoay nghiêng mà lách vô, và tro tràn ra thành một quầng xám trên mặt bàn. Trên vách vôi phía sau, ngay tầm khói, có mảng ố vàng hình bán nguyệt rộng chừng bốn gang tay. Mảng đó không phải của một năm.
Bên phải bàn thờ, xếp trong góc, có bốn cái bọc giấy còn nguyên dây cột.
"Bà chưa đốt," Ngần nói.
"Chưa cô. Tui để đó." Bà nội bé đứng ở cửa buồng, hai tay lau vô vạt áo dù tay bà khô. "Bữa nào rằm tui đốt một bộ. Còn lại tui để đó."
Nhà ba gian, nền xi măng, mái tôn lót xốp cho đỡ nóng. Cửa trước mở ra sân đất nện, ngoài hàng rào dứa dại chừng hai trăm thước là biển, và tiếng biển vô tới trong nhà thành một thứ tiếng đều đều mà ở lâu thì thôi nghe ra. Trên bàn ăn có đĩa xôi đậu đậy lồng bàn, mốc xanh một góc.
Bà Hai Chín gọi lúc bảy giờ hai mươi sáng, lúc Khoa còn xách giỏ cá lên cầu thang.
"Bà đó mua bốn lần trong một tháng, nhà làm đủ lệ hết rồi," bà Hai nói. "Ngoài đó người ta cúng cá nướng chứ không cúng thịt heo, mày nhớ. Tao cho địa chỉ rồi đó."
"Bà có nói con là ai không bà Hai?" Ngần hỏi.
"Tao nói có mấy đứa đi coi giùm. Tao đâu có nói mày làm nghề gì, tao nói tao đâu có tin." Rồi bà cúp, giữa lúc Ngần định hỏi tên bà cụ.
Trọng chạy hai tiếng bốn mươi phút, ghé đổ dầu một lần. Anh ngồi cái ghế nhựa gần cửa, sổ để trên đùi, Lệ ngồi kế bên, Khoa ngồi bậc thềm ngoài sân vì trong nhà chỉ có ba cái ghế.
Bà nội bé kéo cái ghế đẩu ngồi xuống, với tay lấy tấm hình trên bàn thờ xuống cầm trong lòng.
Tấm hình cỡ ba nhân bốn phóng lên bằng bàn tay, nét đã rỗ. Người trong hình mặc áo bảo hộ màu xanh, cổ áo hơi lệch, mặt nhìn thẳng và không cười.
"Hình này cắt ở cái thẻ ra," bà nói. "Nó có chụp hình đám cưới, mà con vợ nó giữ. Nhà tui chỉ có cái này."
"Tên anh là gì bà?" Lệ hỏi.
"Đặng Văn Sênh," bà nói. "Tui kêu nó thằng Sênh."
Tay bà run, và cái run đó là run của tuổi chứ không phải của hôm nay. Nhưng khi bà nói tên con, hai bàn tay siết lại và tấm hình nghiêng theo.
Sênh ba mươi bốn tuổi. Làm tổ đông lạnh ngoài xưởng Hải Toàn, ngoài Cồn Nghêu, đi làm ca đêm, tháng về nhà hai lần. Vợ nó tên Diễm, sinh đứa nhỏ trước đó bốn tháng.
"Con nhỏ giờ gần hai tuổi rồi," bà nói. "Con dâu tui với nó ở ngoài đó. Tui ra ở với con dâu nửa tháng rồi về nhà nửa tháng, tại nhà có bàn thờ, bỏ không được."
"Xưởng có đưa bà giấy gì không?" Trọng hỏi.
Bà vô buồng mở cái rương gỗ, đem ra cái bao ni lông đựng ba tờ giấy, đưa cả bao cho Trọng.
Trọng lấy ra đọc, không đọc lớn. Anh ghi vô sổ hai dòng rồi chụp hình từng tờ, chụp cả mặt sau.
"Một tờ của xưởng, một tờ của trạm y tế, một tờ giấy báo tử," anh nói. "Bên xưởng ghi đột quỵ. Ghi là phát hiện tại khu vực nghỉ ca lúc sáu giờ sáng."
"Người ta nói nó trúng gió," bà nói. "Người ta nói nó làm ca đêm nhiều quá."
Ngần cầm tờ giấy của xưởng đọc lại. Một trang, đánh máy, ký tên, đóng dấu đỏ trùm lên chữ ký. Không có giờ nào khác ngoài sáu giờ sáng. Không có tên người phát hiện.
"Bà có ra chỗ đó lần nào chưa?" Ngần hỏi.
"Chưa. Người ta chở nó về tới sân đây." Bà nhìn ra cửa. "Tui chưa bước chân vô cái xưởng đó lần nào hết."
Lệ ngồi im từ nãy, hai tay đặt trên đầu gối.
"Bà kể con nghe cái đêm đó đi bà," cô nói. "Từ lúc anh Sênh đi làm."
Bà kể. Bảy giờ tối nó ăn cơm ở nhà trọ, chín giờ rưỡi nó đi bộ qua cổng xưởng, mười giờ vô ca. Con dâu bà kể lại chừng đó. Rồi bà nói: sáng ra người ta kêu.
"Từ lúc anh vô ca tới lúc người ta kêu bà, có ai kể bà nghe khúc giữa không bà?" Lệ hỏi.
Bà nội bé nghĩ. Ngoài sân, Khoa xoay người lại nhìn vô trong.
"Không," bà nói. "Người ta nói nó đột quỵ. Nói xong rồi thôi."
Ngần đứng dậy, đi tới cửa buồng rồi quay lại. Bốn mươi phút vừa qua. Cô đưa đốt ngón trỏ chạm ba cái vô mép khung cửa, chậm, đều, rồi bỏ tay xuống. Trọng thấy, và anh nhìn xuống cuốn sổ.
"Bà," Ngần nói khi ngồi lại. "Bà nói con nghe cái phần bà chưa nói với ai."
Bà nội bé để tấm hình xuống đùi, úp mặt hình xuống.
"Tui đi chợ hoài," bà nói. "Cúng trăm ngày xong tui thấy chưa xong. Giáp năm xong tui cũng thấy chưa xong. Mãn tang rồi, người ta nói hết rồi, mà tháng này tui đi bốn lần." Bà nói chậm lại. "Mỗi lần tui mua xong, xách về tới sân, tui đứng ngoài kia tui thấy như còn thiếu một món. Tui đếm lại, đủ hết. Mà tui vẫn thấy thiếu."
"Bà thiếu bao lâu rồi?" Khoa hỏi vọng vô từ ngoài thềm.
"Từ hồi nó mất," bà nói.
"Năm trăm bốn mươi tám ngày," Khoa nói. "Con tính từ cái ngày trong giấy."
Không ai nói gì. Con số đó rơi vô nhà và nằm đó.
"Hay tui cúng thêm hả cô?" Bà nội bé ngước lên nhìn Ngần. "Tui bán con bò cũng được, tui làm một cái lễ lớn."
"Bà đừng." Ngần nói ngay, giọng phẳng, không thương hại. "Nhà bà cúng đủ bộ rồi. Cúng thêm không thêm được gì hết, chỉ tốn tiền bà thôi. Cái còn thiếu không nằm ở mâm cúng."
"Vậy nó nằm ở đâu?" bà hỏi.
"Con chưa biết," Ngần nói. "Con phải đi coi mới biết."
Bà nội bé gật, rồi nói thêm một câu, nhanh, như sợ không nói bây giờ thì thôi.
"Trên mạng người ta nói phải đốt hết đồ của nó đi. Đốt sạch, đừng chừa. Tui coi mấy cái clip đó hoài." Bà chỉ vô cái rương gỗ trong buồng. "Đồ nó còn nguyên trong đó. Tui chưa dám."
"Bà đừng đốt." Ngần nói. "Bà giữ nguyên giùm con, đừng dời đi đâu hết."
Trọng gấp sổ, ra sân coi lốp xe theo thói quen. Lệ đi rót nước cho bà cụ mà không hỏi trước. Bà nội bé vẫn ngồi trên ghế đẩu, tấm hình úp trong lòng, chờ tới lúc chỉ còn Ngần ngồi đó mới hỏi.
"Cô ơi, tui hỏi thiệt cô một câu." Bà lật tấm hình ngửa lại. "Người ta chết ở chỗ làm thì có về nhà được không cô?"
Ngần không trả lời bà.
"Từ đây ra cái xưởng đó bao xa hả bà?" cô hỏi.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 3 →