Ông Lịnh sang lúc trời vừa tắt nắng, một tay xách cái đèn bão, tay kia cầm nửa lít rượu đựng trong chai nước ngọt, nút bằng lõi ngô.
"Nhà mới." Ông nói, đặt cả hai thứ lên bậc thềm. "Có mỗi cái này là tôi mang biếu được. Chứ chổi cùn rế rách thì nhà này thừa rồi."
Ông đi một vòng quanh sân như người đi nghiệm thu. Ông chỉ cho tôi chỗ mái tôn nhà ngang bị bung một con vít, dặn mùa gió bấc phải chèn viên gạch lên. Ông kéo thử cánh cửa bếp, bảo bản lề dưới sắp long, sáng mai ông mang cái tuốc nơ vít sang.
Rồi ông ngồi xuống bậc thềm, rót ra hai cái chén hạt mít, đẩy một chén về phía tôi.
"Uống một hớp thôi cho ấm, tôi không ép." Ông nói. "Cô mà say thì cả làng mất chữ, tôi không đền nổi."
Tôi uống một hớp thật, cay tới chảy nước mắt, và ông cười khà, có vẻ hài lòng.
Ông rót thêm cho mình nửa chén nữa rồi để đó không uống. Trong sân chỉ có tiếng con chó trở mình dưới hiên và tiếng cái đèn bão xì rất khẽ.
"Hai trăm ba mươi bảy." Ông Lịnh nói, không cần dạo đầu. "Tôi đếm lại tối qua, không sai một vạch."
"Vâng ạ."
"Cô đang tính chuyện đầy lại chỗ ấy." Ông nói. Không phải câu hỏi. "Tôi làm nghề này ba mươi năm, tôi nhìn mặt người ta lúc ngồi gạch vạch là tôi biết ai đang tính gì."
Tôi không đáp. Ông cũng không đợi tôi đáp.
"Cô có cả cái bàn thờ nhà ông Thu trong tay rồi." Ông nói tiếp, xoay chén rượu trong lòng bàn tay. "Cụ Trạc thì đi rồi, không còn ai gàn cô nữa. Muốn làm thì làm được thật đấy, tôi không doạ cô đâu."
"Ông có định cản cháu không ạ?"
"Cản thế nào." Ông cười, nhưng lần này cười ngắn. "Nghề tôi là bỏ chữ, không phải giữ người. Tôi chỉ nói với cô đúng cái câu tôi vẫn nói với cô từ hồi tháng chín, cô nghe rồi cô cứ làm gì thì làm."
Ông đặt chén xuống bậc thềm, đứng dậy, phủi quần.
"Không phải cái gì cũng nên có tên."
Ông xách cái đèn bão đi ra cổng, tới nửa sân thì quay lại, dặn với vào một câu về chuyện then cửa bếp phải cài từ trong chứ cài ngoài thì trẻ con nó mở được, rồi đi hẳn.
Tôi vào nhà, cài then, và bắt đầu bày ra.
Tôi kê cái bàn con ra giữa phản. Bên trái là tập giấy dó đã dập ở nhà ông Thu, gấp theo đúng thứ tự Miên đánh số. Bên phải là cuốn vở Miên chép tay bằng bút chì. Chính giữa là sổ chữ, tôi mở lớp vải nâu ra, đặt sổ xuống, lật.
Mục 200 nằm ở trang cuối, một mình một trang.
Tôi đã nhìn trang này một lần rồi, hồi tháng chín, hôm cụ Trạc mở tủ cho tôi xem sổ lần đầu. Lần ấy tôi lật tới đây, thấy trống, và tôi hỏi cụ có phải mất chữ vì mối hay vì nước không. Cụ bảo không, mục ấy vốn không có chữ. Tôi ghi vào sổ tay một dòng ngắn là mục cuối không có mặt chữ, ghi kèm dấu hỏi, rồi lật trở lại và ba tháng sau mới mở ra lần nữa.
Bây giờ tôi nhìn kỹ.
Ở lề bên phải có con số, khắc rồi in, đậm hơn mọi con số khác trong sổ, đúng như cái số hai trăm khắc to hơn hẳn trong cột lệnh dưới gầm bàn thờ. Bên cạnh nó là một khoảng giấy trống, rộng đúng bằng chỗ dành cho một mục, không hơn một li nào.
Chỗ trống ấy không sạch. Giấy ở đó mỏng hơn giấy xung quanh, mòn đi, hơi sẫm màu, và ở mép dưới có một vết nhàu chạy ngang, kiểu vết do ngón cái người ta miết vào một chỗ nhiều lần trong nhiều năm. Không phải một đời người miết. Nhiều đời.
Tôi ngồi nhìn cái vết ấy lâu hơn tôi định.
Rồi tôi giở tập giấy dó ra, tìm tờ có cột lệnh, đặt cạnh sổ chữ, kéo đèn lại gần.
Hôm ở gian thờ nhà ông Thu, chúng tôi đọc đoạn văn dài ở cuối trước, vì nó là chỗ dày chữ nhất và vì cụ Trạc giục. Còn cái cột nằm ngay dưới con số hai trăm thì tôi mới liếc qua, thấy nó ngắn hơn đoạn văn kia nhiều, tưởng chỉ là một dòng lệnh gọn như mấy chục dòng lệnh phía trên. Rồi cụ yếu, rồi cụ mất, rồi tang, và tờ giấy ấy nằm gấp trong túi vải suốt một tuần.
Đêm nay tôi mở ra, và tôi thấy nó dài gấp năm lần bất cứ dòng lệnh nào khác trong danh sách.
Tôi dịch từ nửa đêm tới gần ba giờ sáng. Chữ Nôm khắc ngược, dập bằng than, nét nào cũng có chỗ nhoè, và tôi phải soi từng chữ, tra lại, viết ra nháp, gạch đi, viết lại. Có ba chỗ tôi không chắc, tôi đánh dấu để hôm sau hỏi lại. Còn lại thì rõ, rõ tới mức tôi đọc xong lượt thứ nhất đã phải đứng dậy đi ra sân đứng một lúc rồi mới vào đọc lượt thứ hai.
Ông Trổ viết, mục cuối cùng không có mặt chữ vì ông cố ý không khắc. Một cái tên khi đã có mặt chữ thì đã đi được nửa đường tới chỗ có hình. Ông để nó chỉ có số, không có gì khác, và ông xin những người đến sau đừng khắc bù vào.
Ông viết, mục ấy là cái tên đặt sẵn cho người biết nghĩa của mọi từ.
Rồi ông viết cái vế mà tôi đọc đi đọc lại nhiều nhất trong đêm hôm ấy. Dịch sát nhất tôi có thể: ai đầy được mục này thì người ấy hiện ra, hoặc kẻ đang đầy nó thành ra chính nó.
Tôi thử ngắt câu ba cách. Cách thứ nhất, hiểu là có một người khác sẽ hiện ra. Cách thứ hai, hiểu là người đọc sẽ trở thành cái mình vừa gọi tên. Cách thứ ba, hiểu là cả hai xảy ra cùng lúc và không phân biệt được nữa. Cấu trúc chữ cho phép cả ba, không nghiêng về cách nào.
Ông Trổ là thợ khắc ván in kinh sách. Cả cuốn sổ này, ba trăm năm mươi lăm năm nay, không có lấy một chỗ ông viết mơ hồ. Ông không lỡ tay ở đúng cái mục ông cẩn thận nhất.
Ông để nước đôi vì ông muốn người đọc tới đây phải tự trả lời câu hỏi ấy, và không được biết mình trả lời đúng hay sai.
Phần cuối của cột giải thích hậu quả, và đây là chỗ ông viết gọn nhất, gần như khô khốc. Khi mục ấy đầy, tiếng trong thôi buộc vào vật. Nó buộc vào người ấy. Từ đó không có từ nào rụng nữa, vì không còn phụ thuộc vào việc còn hay hết miệng. Không cần ba ngày một tiếng. Không cần chia gánh. Không cần trẻ con.
Và không có gì đổi nữa. Không còn mục trống nào chờ một thứ chưa có. Cái đã có thì có mãi, cái chưa có thì không bao giờ tới.
``` ▸ (không có mặt chữ) — mục 200 thớ: trống miệng: 0 nghĩa: — cấm: tuyệt đối, mọi trường hợp, mọi lý do tiếng: — ```
Tôi ngồi lùi lại, dựa lưng vào vách gỗ.
Ông Trổ khắc hai trăm mục trống, và cụ Trạc vẫn nói hai trăm, vì đó là con số cha cụ dạy. Nhưng mỗi đời sau ông lại có người đầy thêm một hai mục. Tôi đếm hai lượt hôm sang nhà ông Thu, được một trăm tám mươi ba. Bản dập dưới gầm bàn thờ cho tôi nghĩa gốc của một trăm sáu mươi mốt mục trong số đó, chép sẵn, không phải đoán một chữ nào. Còn lại hai mươi mốt mục nằm trong danh sách cấm, ông Trổ không ghi nghĩa cho mục nào cả, cố ý.
Nghĩa là muốn đầy mục hai trăm, tôi phải tự nghĩ ra nghĩa cho hai mươi mốt mục ấy.
Tôi biết mình đang nghĩ gì lúc đó và tôi không định giấu chuyện ấy đi. Trong đầu tôi, gần như tức khắc, đã bắt đầu chạy cái việc tôi vẫn làm từ năm hai đại học tới giờ: xếp hai mươi mốt cái tên ấy ra, nhìn âm đầu, nhìn vần, đối chiếu với các mục cùng cụm nghĩa nằm gần chúng trong sổ, xem cái nào là tên đồ dùng, cái nào là tên bệnh, cái nào là tên một lối đi. Tôi làm việc đó không cần cố. Nó tự chạy, như tay người ta tự đưa ra đỡ khi có cái gì rơi.
Sáu trăm bốn mươi mấy mục tôi đã ghi và giải nghĩa trong ba tháng rưỡi ở thung này. Tôi chưa sai một mục nào trong số đó, theo đúng bản dập dưới gầm bàn thờ nhà ông Thu, trừ mấy chỗ lệch về sắc thái mà chính người làng cũng không thống nhất với nhau.
Không có ai khác trên đời này làm được việc ấy. Nhượng đọc được tiếng trong nhưng không đọc được chữ Nôm khắc ngược. Cô Sính chưa từng đặt chân tới thung. Bà Rớt không biết chữ. Miên mười chín tuổi và gánh còn trống gần hết.
Tôi nghĩ tới hai trăm ba mươi bảy cái vạch trong sổ ông Lịnh, và tới việc chúng sẽ không bao giờ xảy ra thêm lần nữa nếu tôi đầy chỗ trống này.
Tôi nghĩ tới cái đêm bà Rớt đứng trước cánh chạn mở, ngẩng lên nhìn một cái xà ngang không có gì treo, rồi bảo già rồi.
Tôi nghĩ tới bốn cái miệng đang nuôi khươm và tới việc đến một ngày nào đó sẽ chỉ còn ba, rồi hai.
Tôi nghĩ tới câu ông Trổ viết ở đoạn cuối, rằng người sai không sai vì kém cỏi, mà vì đã đúng quá nhiều lần liên tiếp.
Đèn dầu cạn dần, ngọn lửa thấp xuống, tôi vặn bấc lên một nấc rồi thôi không vặn nữa. Tôi không lấy bút ra. Tôi không viết một chữ nào vào trang ấy, không viết cả vào sổ tay. Tôi ngồi trên phản, hai tay để trên đùi, và tôi nhìn cái khoảng giấy mòn có vết miết ngang ở mép dưới, cái khoảng mà bao nhiêu người giữ tiếng trước tôi đã lật tới, đã nhìn, đã miết ngón cái vào, rồi đã gấp sổ lại.
Trời sáng lúc nào tôi không rõ. Tôi biết là sáng vì con chó ngoài hiên đứng dậy rũ mình, và vì ở xóm dưới có ai đó gọi trâu, tiếng gọi kéo dài, đứt ở cuối.
Tôi vẫn ngồi nguyên chỗ đó, sổ chữ mở trước mặt, mục hai trăm vẫn trắng.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 76 →