Cuộc họp hẹn hai giờ chiều, tới hai giờ hai mươi lăm mới bắt đầu, vì phải chờ ông Vượng gánh nốt chuyến luồng cuối và chờ người đi mượn cái loa cầm tay của xã về.
Sân đình họp ban ngày trông khác hẳn. Hôm chia gánh hồi tháng mười, tôi ngồi ở rìa sân trong bóng tối, chỉ nhìn được mặt những người ngồi gần ba cái đèn bão. Chiều nay nắng hanh chiếu thẳng xuống, gạch sân khô trắng, và tôi nhìn rõ từng người một: ai ngồi ghế nhựa mang theo, ai ngồi bệt, ai đứng dựa cột, ai mặc áo mới.
Cái bàn con vẫn được kê ở giữa sân, đúng chỗ cũ. Không ai ngồi vào đó. Người ta để nguyên nó ở đấy và tự kê thêm một cái bàn nhựa khác lệch sang bên phải, ông Chuân với ông Lịnh ngồi vào bàn nhựa, và không ai nói một câu nào về việc ấy.
Chị Thoan tới trước giờ hẹn hai mươi phút, xe bán tải trắng đỗ ngoài đường bê tông, chị vào sân với một cái cặp tài liệu và một xấp giấy phô tô. Chị chào từng người, hỏi thăm ông Vượng chuyện đứa con trai, nhớ cả tên nó, đúng như lần đầu.
Nhượng đứng ở rìa sân, gần gốc đa, tay không cầm sổ, không ghi gì. Ông gật đầu chào tôi từ xa. Suốt cả buổi chiều hôm ấy ông không phát biểu một câu nào, và tôi biết ông có mặt ở đây không phải để nói.
Miên đứng cạnh tôi, xin nghỉ tiệm một buổi, tay vẫn cầm điện thoại nhưng úp màn hình xuống.
Việc thứ nhất là cái bể nước. Bơm thử ba hôm rồi, nước lên tới đầu xóm Trên, xóm Bến phải chờ đợt hai vì thiếu ống. Ông Chuân đọc con số tiền điện tháng đầu, chia đầu hộ, hai mươi bảy nghìn một nhà. Có người kêu đắt, có người bảo rẻ chán so với gánh nước, và chuyện đó tranh luận mất mười lăm phút, lâu hơn tất cả những gì đến sau.
Việc thứ hai là hợp đồng dài hạn.
Chị Thoan đứng dậy, không cầm loa, chỉ nói to lên một chút.
"Em nói ngắn thôi ạ, các bác nghe rồi về nghĩ, không phải trả lời em hôm nay." Chị nói. "Bên em muốn ký với bà con một hợp đồng thu mua ba năm. Giá sàn ghi trong hợp đồng, năm nào cũng thế, xuống giá thị trường thì bên em vẫn mua đúng giá sàn. Ứng trước ba mươi phần trăm đầu vụ. Em để lại đây hai chục bản phô tô, bác nào lấy về đọc thì lấy, có chỗ nào không hiểu thì gọi em, số em ghi ở trang cuối."
Chị đặt xấp giấy xuống bàn nhựa. Người ta chuyền tay nhau.
"Còn một việc nữa, em nói luôn cho minh bạch." Chị nói tiếp, và chị quay nửa người về phía tôi. "Bên em có gửi cô Hoài một bản đề xuất nghiên cứu từ hồi tháng mười một. Chuyện đó là chuyện riêng giữa công ty với cô Hoài, không dính gì tới hợp đồng thu mua, các bác đừng lẫn hai cái vào nhau. Cô Hoài chưa trả lời em, mà em cũng chưa giục. Nhưng bên em làm ngân sách theo quý, nên trước rằm tháng chạp em cần biết có hay không, để em còn xếp việc."
Chị nói xong thì ngồi xuống, không nhìn tôi thêm lần nào nữa. Tôi ngồi trên cái ghế đẩu mang từ nhà cụ Trạc sang, cuốn sổ chữ trong túi vải đặt trên đùi, và tôi thấy chừng mươi cái đầu quay lại phía mình rồi quay đi.
"Cái bản đề xuất ấy là cái gì thế cô Hoài?" Ông Vượng hỏi thẳng.
"Là công ty muốn cháu tìm hiểu và mô tả một loại cây mà tiếng mình có tên gọi riêng, tiếng ngoài chưa có." Tôi đáp. Tôi cân từng chữ, và tôi biết mình đang cân. "Mục một trăm mười ba trong sổ. Chữ mằn."
"Thế thì cô cứ mô tả đi chứ." Ông Vượng nói. "Có cây thì mô tả, không có thì bảo không có. Người ta trả tiền cho cái công đi tìm mà."
"Trong sổ có tên." Ông Lịnh nói xen vào, không đứng dậy. "Trong rừng thì chưa chắc. Ông đi tìm hộ tôi cái cây ấy một buổi, thấy thì tôi mời rượu, không thấy thì ông mời tôi."
Mấy người cười. Ông Vượng phẩy tay.
Thầy Dền xin phép nói, đứng dậy hẳn, hai tay để trước bụng, lễ phép quá mức như mọi lần ông sắp nói một điều không ai muốn nghe.
"Thưa các bác, cháu chỉ hỏi một câu ạ." Ông nói. "Hợp đồng ba năm thì cháu ủng hộ, cái đó rõ ràng, có giấy có chữ ký. Nhưng cái phần dính tới chữ nghĩa trong sổ thì cháu xin các bác cân nhắc. Hồi tháng chín bọn trẻ nhà mình bắt đầu học tiếng trong vì có người trả tiền. Cháu chỉ xin hỏi, sang năm bên công ty không cần nữa thì bọn nó học tiếp bằng cái gì ạ."
Không ai trả lời câu đó. Bà Vấn tặc lưỡi. Ông Chuân ghi gì đó vào sổ.
Bà Rớt, ngồi ở hàng thứ hai, nói lên một câu, không đứng dậy, giọng nhanh và gọn như mọi khi.
"Tiền thì cứ lấy." Bà nói. "Cái nhà tôi lợp lại mái bằng tiền bán một cái nghĩa, cả làng biết cả rồi, không ai chết vì cái đó. Nhưng cái nào bán được, cái nào không, thì phải có người biết mà nói. Trước có ông ấy nói." Bà hất cằm về phía cái bàn con không ai ngồi. "Giờ ông ấy giao lại cho cô này rồi. Ông Lịnh có biên bản, có chữ ký, hôm ấy tôi không có mặt nhưng cả làng có mặt."
"Có." Ông Lịnh nói, giơ cuốn sổ lên. "Có cả điểm chỉ."
"Thế thì hỏi cô ấy." Bà Rớt nói. "Hỏi xong thì thôi, đừng cãi nữa, tôi còn phải về cho lợn ăn."
Ông Chuân gõ đầu bút xuống mặt bàn nhựa hai cái.
"Cô Hoài." Ông nói. "Cụ giao sổ cho cô. Cô nói đi."
Cả sân đình quay lại.
Ở đây tôi phải dừng lại một lần, trước khi kể tiếp.
Miên, trong quyển này tôi đã viết rằng khươm là từ đầu tiên tôi đặt nghĩa. Không đúng. Tôi để nguyên câu ấy suốt bảy năm.
Từ đầu tiên là mưn, mục số bốn, buổi sáng thứ hai của tôi ở thung. Một đứa bé trai xóm Bến, balo lệch một vai, sún một răng hàm dưới, vén tóc trán chỉ cho tôi xem chỗ sương đọng, hỏi tiếng mình gọi cái này là chi. Nó nói cho tôi nghe cái từ ấy. Tôi nhắc lại, rồi nói thêm một câu bằng giọng của người xác nhận chứ không phải người hỏi, rằng mưn là sương đọng trên tóc lúc đi sớm. Chưa ai dạy tôi câu đó. Tôi nói ra vì nó hợp cảnh, và vì tôi muốn đứa bé thấy tôi biết.
Lúc ấy tôi chưa biết ở đây có luật nào.
Tôi không kể ra để xin em thông cảm. Tôi kể vì em phải biết người giao việc cho em đã nguy hiểm từ buổi sáng thứ hai, trước khi tôi kịp chọn có muốn nguy hiểm hay không.
Bây giờ tôi kể tiếp.
Sân đình chiều hôm ấy im theo cái kiểu im của một chỗ đông người đang chờ, tức là vẫn có tiếng, tiếng ghế nhựa cọ gạch, tiếng một đứa trẻ khóc đâu đó phía sau đình, tiếng xe máy chạy trên đường bê tông rồi xa dần.
Tôi ngồi yên, hai tay đặt lên cái túi vải bọc sổ.
Trước mặt tôi là hai chục bản hợp đồng phô tô đang chuyền tay, một cái bể nước đã có nước thật, mười một đứa trẻ sang năm thi vào cấp ba, một người đàn bà bảy mươi sáu tuổi mỗi chiều vẫn ra bến nói chuyện với một cái tên đặt lệch từ ba mươi tám năm trước, một cuốn sổ trong đó có hai trăm ba mươi bảy cái vạch mới gạch tuần trước, và một cái bàn con không ai ngồi vào.
Trong sân này chỉ có hai người biết rằng câu hỏi họ vừa hỏi tôi về một cái cây, và cái câu hỏi kia, cái nằm ở trang cuối cuốn sổ trong túi vải trên đùi tôi, là cùng một câu hỏi thu nhỏ lại. Người thứ hai đang đứng sau lưng tôi, cách chừng một bước.
Miên cúi xuống, nói vào tai tôi, rất khẽ, không để ai khác nghe.
"Tháng sau em vào Nam, chị ạ." Cô nói. "Con bạn em nó xin được chỗ làm rồi. Em nói trước cho chị biết thôi, chứ không phải kiểu để chị giữ em lại đâu."
Tôi quay sang. Cô nhìn thẳng lại, không né, và cô không có vẻ gì là vừa nói một câu nặng.
"Chị nói gì thì nói." Cô nói thêm. "Em đứng đây."
Ông Chuân hắng giọng, không giục, chỉ nhắc rằng vẫn đang chờ.
Tôi mở túi vải ra, lấy cuốn sổ chữ, đặt lên đùi, tay để trên lớp vải nâu chưa gỡ. Tôi đã cầm nó như thế mấy chục lần trong ba tháng rưỡi, và chưa lần nào tôi cầm nó với tư cách người phải trả lời.
Rồi tôi đứng dậy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.