Ngoài cổng nhà cụ Trạc sáng hôm ấy có bốn cái xe đạp và một cái xe máy dựng sát hàng rào cúc tần, cái nào cũng quay đầu ra đường, xếp gọn ghẽ như người ta vẫn xếp xe ở một đám có việc.

Tôi đếm lại một lượt trước khi đẩy cổng vào. Trong ba tháng rưỡi ở thung, tôi chưa lần nào thấy quá hai cái xe ở cái cổng này cùng lúc, kể cả hôm cụ ở viện về.

Sân đã có người quét từ sớm, lá mít gom thành một đống nhỏ ở góc, chưa kịp hót. Hai chiếc chiếu trải ngoài hiên, trên chiếu là ấm nước với mấy cái chén úp ngược, một đĩa kẹo lạc mở dở. Vợ chú Thức ngồi canh nồi cháo trên bếp than tổ ong kê sát chân cột, thỉnh thoảng lấy đũa cả khuấy một vòng cho khỏi khê. Ông Chuân ngồi bậc thềm, tay vê một sợi lạt tre mà không làm gì với nó cả.

"Cô Hoài." Ông hất cằm về phía cửa gian trong. "Vào đi. Cụ hỏi cô từ lúc mờ đất."

Trong nhà tối hơn ngoài sân nhiều. Cụ Trạc nằm trên phản, kê hai cái gối chồng lên nhau ở lưng, chăn chiên kéo tới ngực. Cháu trai cụ ngồi ở mép phản, tay cầm cái thìa nhỏ, trước mặt là bát cháo đã nguội hẳn, lớp trên đóng váng.

Tôi nhìn cụ và biết ngay là khác. Không phải khác kiểu tôi vẫn quen ghi lại sau mỗi lần tới, gầy thêm một ít, giọng đục thêm một ít. Bốn hôm trước cụ còn ngồi được cả buổi trong gian thờ nhà ông Thu, cầm kính lúp soi giấy dó, tay run nhưng cầm chắc. Bây giờ hai bàn tay cụ để ngửa trên chăn, các ngón hơi co lại, và cụ không tự kéo chăn lên được khi nó tụt xuống, phải đợi cháu trai kéo hộ.

"Y sĩ trên trạm xá xuống từ sáu giờ." Cháu trai cụ nói khẽ với tôi, đứng dậy nhường chỗ. "Đo huyết áp, tiêm một mũi, để lại mấy vỉ thuốc. Anh ấy bảo không phải bệnh gì mới đâu cô ạ. Là tuổi."

Anh nói câu cuối bằng giọng bình thường, kiểu người đã nhắc lại câu đó nhiều lần trong buổi sáng cho nhiều người khác nhau, và mỗi lần nhắc lại thì nó mòn đi một chút.

Cụ Trạc mở mắt. Cụ nhìn tôi một lúc, rồi nhấc bàn tay phải lên khỏi chăn chừng một đốt, ngoắc hai ngón. Tôi ngồi xuống mép phản.

"Gọi các bác vào." Cụ nói.

Tiếng cụ ra rất mỏng, mỏng hơn cả hôm ở gian thờ, và phải nghe kỹ mới tách được từng chữ ra khỏi tiếng hơi thoát. Cháu trai cụ ra hiên gọi. Ông Chuân vào trước, rồi ông Tuất, rồi bà Vấn chống gậy đi sau cùng, cả ba đều bỏ dép ở bậc cửa. Ông Lịnh tới muộn hơn một chút, tay cầm cái quạt nan dù trời rét, vào tới nơi thì đứng dựa vách, không ngồi.

"Cô mở tủ." Cụ Trạc nói với tôi.

Tôi lấy chùm chìa khoá trong túi trong cùng của ba lô ra, tra cái chìa đồng vào ổ khoá tủ gỗ, xoay. Cánh tủ mở ra mùi quen thuộc, mùi giấy cũ lẫn mùi long não. Tôi bê cuốn sổ chữ ra, vẫn nguyên lớp vải nâu bọc ngoài, đặt lên mặt phản, ngay cạnh chỗ tay cụ để.

Cụ không mở lớp vải ra. Cụ chỉ đặt bàn tay lên trên, để yên đó.

"Các bác nghe cho tôi một việc." Cụ nói. "Tôi nói chậm. Ai không nghe rõ thì bảo thằng cháu nói lại."

Từ đó, mỗi câu cụ nói ra, cháu trai cụ nhắc lại to lên một lần cho ba người ngồi phía sau, đúng như hồi cụ mới ở viện về, người ngồi gần nhất đọc to cuốn vở học sinh cho cả gian nhà nghe.

"Sổ chữ giao cho cô Hoài." Cụ nói. "Không phải cho mượn."

Ông Chuân gật một cái. Bà Vấn không gật, cũng không phản đối, chỉ đổi tay cầm gậy.

"Sổ không mang ra khỏi thung." Cụ nói tiếp. "Ai muốn xem thì hỏi cô ấy. Cô ấy cho thì cho, không cho thì thôi, không ai được đòi."

"Không đọc to ban đêm." Cụ dừng, lấy hơi hai nhịp. "Cái này tôi nhắc lại cho đủ, chứ ai cũng biết."

Tôi mở sổ tay ra, ghi. Tôi ghi vì đó là việc duy nhất trong phòng lúc ấy mà tôi làm được thành thạo.

"Bà Rớt giữ tiếng trong nhà." Cụ đọc tiếp, chậm hơn. "Bếp, vải, bệnh trẻ con, các cách gọi đau. Cái đó tôi không đụng tới bao giờ, cô cũng đừng đụng."

"Ông Lịnh giữ nghề của ông ấy. Bỏ chữ nào cũng phải qua ông ấy trước. Cô không được tự bỏ."

"Dạ." Tôi đáp.

"Ông Chuân, bà Thìn, bà Vấn, mỗi người một phần, cô hỏi lại từng người, ghi ra. Đừng tin cái tôi ghi trong sổ, ghi từ lâu rồi, người còn người mất."

"Con Miên gánh còn trống." Cụ nói, và đây là câu cụ nói dài nhất từ nãy, phải ngắt làm ba đoạn. "Đừng ai ép nó. Nó nhận thì nhận, không nhận thì để đấy. Ép một cái là hỏng cả."

Ông Lịnh ở chỗ vách gật gù, không nói gì.

"Cái khươm của cô." Cụ quay sang tôi. "Bốn miệng, ba ngày một tiếng. Nhỏ thôi, nhưng đừng để rơi. Rơi cái nhỏ quen tay rồi thì rơi cái to cũng quen."

"Dạ cháu nhớ ạ."

Cụ im một lúc lâu hơn những lần dừng lấy hơi trước đó. Tôi tưởng cụ mệt, định bảo cụ nghỉ đã, thì cụ nói tiếp, và câu này cụ nói không nhìn tôi mà nhìn lên mái.

"Chỗ nào trong sổ tôi không biết nghĩa, thì đừng ai đoán."

Không ai trong gian nhà hỏi lại câu đó nghĩa là gì. Ông Tuất nhìn ông Chuân, ông Chuân nhìn xuống sợi lạt vẫn còn trong tay, và mọi người coi như đó là một dòng nữa trong danh sách, ngang hàng với chuyện không đọc to ban đêm.

"Cụ ơi." Ông Tuất lên tiếng, giọng ngập ngừng, kiểu người biết mình đang hỏi một câu ai cũng nghĩ mà chưa ai nói. "Cô Hoài là người ngoài. Cháu không có ý gì đâu ạ, nhưng làng mình xưa nay..."

"Bốn mươi mốt người." Cụ Trạc cắt ngang, không gắt, chỉ là hết hơi nên nói ngắn. "Ông kể tôi nghe một người đọc được chữ trong đó."

Ông Tuất im.

"Tôi cũng không đọc được hết." Cụ nói thêm. "Tôi giữ âm thôi. Cô ấy đọc được mặt chữ."

"Thế thì xong." Ông Chuân nói, gọn, và đứng dậy phủi quần. "Tôi làm chứng."

"Tôi cũng làm chứng." Bà Vấn nói. "Nhưng cô ấy phải hứa một câu là không bán."

Cả gian nhà quay sang tôi. Tôi để bút xuống.

"Cháu không bán ạ." Tôi nói.

Bà Vấn gật, có vẻ hài lòng với chính cách bà đặt câu hỏi hơn là với câu trả lời.

Ông Lịnh rời chỗ vách, ngồi xuống chiếu, lôi trong túi áo ra cuốn sổ ông vẫn dùng ghi các buổi chia gánh, giở tới trang trắng, viết ngày tháng lên đầu trang.

"Có gì thì cũng phải ghi." Ông nói, vừa viết vừa nói, không ngẩng lên. "Sau này con cháu nó cãi nhau thì lôi ra, khỏi mất công đào ai lên hỏi."

Ông Chuân bật cười một tiếng ngắn rồi thôi ngay, như tự thấy không phải lúc. Bà Vấn tặc lưỡi, bảo ông Lịnh cái mồm.

Ông Lịnh ghi bốn dòng, đọc lại to lên một lượt, rồi đưa cho từng người ký. Ông Chuân ký. Ông Tuất ký. Bà Vấn không biết chữ, bà lăn ngón tay cái vào cái hộp mực dấu vợ chú Thức tìm được trong ngăn kéo, điểm chỉ một cái đậm ở cuối dòng. Đến lượt tôi, tôi cầm bút mà tay không thật vững, ký xong thấy chữ ký của mình lệch hẳn xuống dưới dòng kẻ.

"Cháu ở đây tới cuối tháng thôi ạ." Tôi nói, khi đưa cuốn sổ lại cho ông Lịnh. Tôi nghe rõ giọng mình lúc nói câu đó, nó nhỏ và nó tìm một lối ra. "Trường cháu bên kia, cháu còn phải..."

"Thì cô cầm tới cuối tháng." Cụ Trạc nói.

Cụ nói câu ấy không có một chút mỉa mai nào, cũng không có ý ràng buộc. Cụ nói như người ta trả lời một câu hỏi về lịch làm việc.

Người ta lục tục ra hiên. Vợ chú Thức múc cháo ra bát, bảo ai đói thì ăn, cháo nấu nhiều. Ngoài sân có tiếng ông Lịnh trêu ai đó về chuyện cái xe đạp dựng chắn lối, rồi tiếng cười, rồi tiếng chén va vào nhau.

Trong nhà chỉ còn tôi với cụ. Tôi cầm cuốn sổ chữ lên, định cất lại vào tủ, thì cụ ngoắc hai ngón lần nữa.

Tôi ghé sát xuống.

Cụ Trạc cười. Tôi đã ở với cụ ba tháng rưỡi và tôi đếm được đúng bốn lần cụ cười, tính cả lần này. Nó không phải nụ cười của người sắp nói một câu để lại cho ai. Nó là nụ cười của một người vừa bàn giao xong một việc dài và đang tính tới buổi chiều của mình.

"Tám mươi năm nay." Cụ nói, thều thào, phải nghỉ giữa chừng một nhịp. "Chưa đêm nào tôi được phép quên cái gì."

Cụ nhắm mắt lại, rồi mở ra, vẫn còn cái nét cười ở khoé miệng.

"Từ mai thì được. Sướng."

Hết Chương 73
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 74 →
← TrướcTiếp →