Ông Thu tự bê ra một cái đèn măng xông cũ, loại chạy bằng dầu hoả, bảo của bố ông để lại, lâu không dùng nhưng vẫn còn tốt, thắp lên sáng hơn hẳn đèn pin. Ánh đèn treo giữa gian thờ hắt xuống nền gạch một quầng vàng đều, đủ để tôi không còn phải nheo mắt mỗi lần soi giấy dó.

Cụ Trạc tới sớm hơn hôm qua, có vẻ đã nghỉ được một đêm ngon giấc, ngồi vào ghế mà không cần nghỉ lấy hơi ngay. Miên chui vào gầm bàn trước, tôi theo sau, tiếp tục từ chỗ hôm qua dừng lại.

Phần cuối dập khó hơn hai phần trước nhiều lần. Các nét khắc ở đây nông hơn, sát nhau hơn, có chỗ chồng lên chỗ khác vì người khắc rõ ràng đã cố nhét thêm chữ vào một khoảng gỗ không đủ rộng. Tới gần trưa chúng tôi mới dập xong hết, tay cả ba người đều đen kịt than, Miên còn dính cả một vệt lên má vì lỡ đưa tay lên gãi.

Chúng tôi trải hết các tờ giấy dó ra nền gạch sạch ông Thu vừa lau, theo đúng thứ tự đã đánh số, ghép thành một dải dài chạy hết chiều ngang gian thờ. Cụ Trạc ngồi trên ghế, cúi hẳn người xuống để nhìn, kính lúp cầm chắc trong tay.

Lúc này tôi mới đọc được trọn vẹn cấu trúc của cả phần cuối. Không phải một danh sách rời rạc như tôi tưởng hôm qua. Nó là hai phần rõ rệt: trước hết là một chuỗi số, xếp thành cột, mỗi số đứng riêng, không có chữ đi kèm, hơn hai mươi số tất cả, không theo thứ tự tăng dần, như thể được chọn ra từ khắp cuốn sổ chứ không phải ghi liền mạch. Số cuối cùng trong cột, khắc to hơn hẳn những số còn lại, tôi nhận ra ngay không cần đối chiếu.

Hai trăm.

Sau chuỗi số đó là một đoạn văn dài hơn, dày đặc chữ, không chia thành từng mục như phần đầu quyển nghĩa nữa, mà viết liền thành một khối, giống một lời dặn hơn là một mục từ điển.

Tôi đọc, dịch ra từng câu, đọc to cho cụ Trạc nghe, vì mắt cụ giờ không còn theo kịp mặt chữ nhỏ như trước. Miên ngồi cạnh, ghi lại bằng bút chì vào một cuốn vở, tay cũng run không kém tay tôi.

Đoạn văn, dịch sát nhất tôi có thể, nói đại ý: những mục có số ghi ở trên, kể cả mục cuối cùng, không được ai đặt nghĩa, dù bằng cách nào, dù người đặt tin chắc tới đâu, dù lý do có chính đáng tới đâu. Ông Trổ viết rõ, ông biết sẽ có ngày lệnh này bị coi là vô lý, sẽ có người đủ giỏi, đủ tận tâm, đủ tự tin, tìm ra cách đầy hết những mục còn lại trong sổ, vì tin rằng làm vậy là cứu được tất cả. Ông viết, người đó không sai vì kém cỏi. Người đó sai vì đã đúng quá nhiều lần liên tiếp, tới mức tin lần cuối cùng chắc chắn cũng đúng.

Tôi dừng lại giữa câu, phải đọc lại đoạn đó hai lần mới chắc mình dịch không lầm.

"Đọc tiếp." Cụ Trạc giục, khẽ.

Tôi đọc tiếp. Đoạn sau, ông Trổ giải thích lý do, và đây là đoạn tôi phải dừng lại lâu nhất, không phải vì chữ khó dịch, mà vì càng dịch tôi càng thấy rùng mình theo một cách khác hẳn mọi lần trước đó trong ba tháng ở thung này. Không phải cái rùng mình trước một con vật mất bóng hay một cái tủ trống trơn không ai nhớ nổi. Đây là cái rùng mình khi nhận ra mình đang đứng trước một cái đầu tính toán xa hơn mình tưởng rất nhiều.

Ông Trổ viết, nếu một ngày cả sổ chữ đầy hết, không còn một mục nào trống, thì cái neo giữ giữa tiếng và vật sẽ không còn chỗ nào lỏng nữa. Mọi cái tên sẽ khớp đúng với mọi vật, không sai, không thiếu, không thừa. Nghe thì như một điều tốt. Nhưng ông viết, một hệ thống không còn chỗ nào lỏng thì cũng không còn chỗ nào để đổi. Không có gì tự nhạt được nữa để nhường chỗ cho cái mới, vì không có mục trống nào chờ sẵn cho cái mới cả. Không có gì chết được nữa, mà cũng không có gì được sinh ra thêm nữa. Ông gọi trạng thái đó bằng đúng hai chữ mà khi tôi dịch ra, tôi phải ngồi thẳng lưng lại, hít một hơi dài trước khi đọc thành tiếng cho cụ Trạc nghe.

Đông cứng.

An toàn tuyệt đối. Và chết tuyệt đối. Cùng một lúc.

Tôi nghĩ tới nhợn, tới cái đêm mấy bụi tre bên khe mất bóng vì tôi đặt sai một chữ. Tôi nghĩ tới mói, tới bà Rớt ra bến mỗi chiều suốt ba mươi tám năm nuôi một cái tên bị đặt lệch. Bao lâu nay tôi vẫn nghĩ cái nguy hiểm của thung này nằm ở chỗ đặt sai. Giờ ngồi đây, tay còn dính than, tôi hiểu ông Trổ không hề lo chuyện đặt sai. Đặt sai sinh ra một cái lệch, xấu, phiền, có khi giết người, nhưng cái lệch vẫn còn là một phần sống trong một hệ thống đang sống. Cái ông sợ là đặt đúng. Đặt đúng, hết lần này tới lần khác, không sai một mục nào, cho tới lúc không còn gì để đặt nữa.

"Ông ấy để hai trăm mục trống là cố ý." Tôi nói, chậm, cố sắp lại ý trong đầu cho gọn trước khi nói ra. "Không phải vì ông chưa kịp viết hết. Ông để trống làm chỗ hở, để cái hệ thống này còn có đường thở."

Cụ Trạc không đáp. Cụ đưa mắt nhìn xuống dải giấy dó trải trên nền gạch, như đang nhìn lại toàn bộ tám mươi mấy năm mình mang bốn trăm cái tên trong đầu mà không hiểu hết nổi một phần ba.

Đoạn cuối cùng, ngắn hơn hẳn, giải thích vì sao ông giấu lý do này đi, không ghi vào chính sổ chữ mà tách riêng ra một quyển khác, giấu kỹ tới mức chính con cháu mình cũng không được biết mặt chữ. Ông viết, nếu lý do này được biết rộng, sẽ có người, bằng lòng tốt thật sự, không phải bằng tham lam, tìm cách sửa lại ý ông cho hợp với thời của họ. Sẽ có người nghĩ, chắc ông Trổ ngày xưa lo xa quá, giờ khác rồi, giờ mình biết cách làm cẩn thận hơn ông. Ông viết, ông không tin bất cứ ai, kể cả người tốt nhất trong số họ, đủ tin để việc này khỏi bị làm hỏng bởi chính lòng tốt của người ấy. Nên ông chọn cách để lệnh này nằm im, không giải thích, không ai hiểu, cho tới khi tự nó hết cần thiết, hoặc cho tới khi có ai đó đọc được nó đúng vào lúc họ cần đọc nhất.

Tôi ngồi im, tay vẫn cầm tờ giấy dó, không đọc thêm câu nào nữa vì đoạn văn dừng lại ở đó, hết chữ.

Miên là người lên tiếng trước, giọng nhỏ hơn mọi khi tôi từng nghe cô nói.

"Vậy là từ đầu, ông ấy đã tính hết rồi. Ba trăm năm mươi mấy năm nay, cả cái làng mình sống trong một cái ông ấy đã tính sẵn."

"Không phải tính hết mọi việc." Tôi nói, vẫn còn đang tự sắp lại trong đầu. "Ông ấy không tính được nhợn sẽ rụng, không tính được mẹ tôi sẽ hỏi xin nghẹ ở một bệnh viện cách đây hai trăm cây số. Ông ấy chỉ tính đúng một việc. Cái việc nguy hiểm nhất không phải là một người đặt sai một mục. Mà là một người đặt đúng quá nhiều mục, liên tiếp, tới mức tin chắc mình có thể đặt đúng hết."

Tôi nói ra câu đó, rồi im, vì tôi nghe rõ chính mình vừa mô tả ai.

Sáu trăm mười hai mục tôi đã ghi từ ngày đầu tiên xuống dốc Nghẹo tới giờ. Còn nhiều hơn thế nữa, nếu tính cả những mục tôi chỉ mới đối chiếu mà chưa kịp viết vào bản tổng hợp gửi cô Sính. Tôi chưa từng đặt nghĩa cho một mục trống nào trừ khươm, và một cái tên tôi chưa kể cho ai. Nhưng tôi đã quen với việc đọc một chữ và biết chắc nó là gì, quen tới mức không còn nhớ cảm giác không chắc là như thế nào.

Cụ Trạc, từ nãy vẫn im lặng, đưa tay ra hiệu tôi lại gần hơn. Tôi bò ra khỏi gầm bàn, ngồi xuống cạnh ghế cụ. Cụ nhìn tôi một lúc, ánh mắt không có gì mới, vẫn là ánh mắt tôi từng thấy hôm cụ dặn tôi ở tủ gỗ ba tháng trước, chỉ là lần này tôi hiểu nó hơn.

Cụ hít vào một hơi dài, chậm, chuẩn bị cho một câu cụ biết sẽ tốn nhiều sức để nói hết. Ông Thu, đứng ở cửa từ lúc nào không ai để ý, cũng im lặng, không hỏi gì, dù rõ ràng ông không hiểu chúng tôi vừa đọc được cái gì trong tấm ván bàn thờ của tổ tiên mình.

"Giờ cô biết vì sao tôi không dạy đứa nào hết nghĩa cả sổ."

Hết Chương 72
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 73 →
← TrướcTiếp →