Miên hẹn tôi ở ngã ba đầu xóm Trại lúc tám giờ sáng, đúng giờ cô nói, việc hiếm khi xảy ra với bất cứ ai khác ngoài tôi, theo lời chính cô tự nhận trên đường đi.
"Em canh giờ vì sợ chị đợi lâu, không phải vì em ngoan lên đâu." Cô nói, tay vẫn bấm điện thoại, mắt không rời màn hình. "Ông Thu dậy sớm lắm, tám rưỡi là ông ấy ra đồng rồi. Mình phải tới trước."
Xóm Trại nằm khuất sau một quả đồi thấp, cách trung tâm làng một quãng đủ xa để có cảm giác đây là một xóm khác hẳn, không phải một góc của cùng một làng. Nhà cửa thưa hơn, sân rộng hơn, nhiều nhà còn giữ tường đất trình chưa quét vôi. Miên dẫn tôi qua một con ngõ nhỏ lát đá, hai bên trồng chè hàng rào cắt tỉa gọn, tới một ngôi nhà ba gian cũ, mái ngói rêu phong, có cổng riêng biệt với sân nhà ở, đúng kiểu nhà thờ họ vẫn thấy ở vùng này.
Ông Đặng Văn Thu ra mở cổng, người thấp đậm, tay còn dính bùn từ việc dọn chuồng bò buổi sớm, chưa kịp rửa. Ông cười, hàm răng ám khói thuốc lào, hỏi Miên đi đâu sớm thế, dắt theo ai đây.
"Chị Hoài, làm nghiên cứu ở làng mình đấy bác." Miên giới thiệu, tự nhiên như đã dặn trước. "Chị đang tìm hiểu về nhà cổ với đồ gỗ cũ trong vùng, cháu bảo nhà mình có cái bàn thờ đẹp, dẫn chị lên xem."
"Đồ gỗ á." Ông Thu gãi đầu, có vẻ vừa ngạc nhiên vừa hơi tự hào. "Cái bàn nhà tôi thì cũng chỉ là đồ cụ tổ để lại thôi, có gì đâu mà nghiên cứu. Vào đây, vào đây, để tôi rửa tay cái đã."
Gian thờ nằm ở nhà giữa, cửa gỗ khép hờ, bên trong tối hơn ngoài sân, phải một lúc mắt mới quen. Bàn thờ đặt chính giữa, gỗ đen bóng, không phải màu sơn mà là màu gỗ lên nước qua hàng trăm năm lau dầu, mặt bàn phẳng lì, soi được cả bóng cửa sổ. Không một hoa văn nào lộ ra trên bề mặt, chỉ có mấy vết trầy nhỏ do bát hương với đế nến kê lên bao năm nay.
"Bàn này từ đời nào rồi ạ." Tôi hỏi, đứng cách một khoảng vừa phải, không dám lại gần quá khi chưa được mời.
"Không biết nữa." Ông Thu đáp, đứng khoanh tay ở cửa. "Từ đời cụ tổ tôi, ông Đặng Văn Trổ, nghe nói là người lập ra cái làng này từ hồi xưa lắm. Nhà tôi đời nào cũng dặn nhau, bàn này không được bán, không được đổi, mối mọt gì cũng phải giữ nguyên, có hỏng chỗ nào thì vá, không thay cả cái."
"Bác có biết vì sao phải giữ kỹ thế không ạ?"
"Không." Ông Thu cười, gãi cằm. "Các cụ dặn thì cháu con nghe theo thôi, có ai hỏi lý do đâu. Chắc gỗ tốt, với lại của cụ tổ để lại, quý là quý cái tình, chứ tôi cũng chả biết gỗ này là gỗ gì cho đúng tên."
Tôi lại gần hơn, xin phép ông cho tôi được sờ, ngắm kỹ mặt bàn. Ông gật, có vẻ vui vì có người để ý tới cái mình vẫn coi là bình thường. Tôi đưa tay lướt trên mặt gỗ, mịn, lạnh, không một đường nét gì khác ngoài vân gỗ tự nhiên. Nếu quyển nghĩa từng được khắc ở đây, thì không phải ở mặt này. Mặt này chỉ là mặt sau của một tấm ván, mặt được lật lên trên để dùng, mòn nhẵn qua không biết bao nhiêu đời khăn lau, không biết bao nhiêu lượt dầu bóng.
"Cháu xem được mặt dưới bàn không ạ?" Tôi hỏi, cố giữ giọng như một câu hỏi nghiệp vụ bình thường. "Cháu muốn xem cách người xưa đóng chân bàn, ghép mộng thế nào."
Ông Thu hơi ngập ngừng, nhìn sang bát hương, nhìn sang mấy đĩa hoa quả bày sẵn, rồi gật.
"Cũng được. Nhưng đừng có xê dịch cái bàn, cô cứ chui xuống dưới mà xem, tôi đỡ bát hương cho khỏi đổ."
Miên bật đèn pin điện thoại đưa cho tôi, còn mình giữ chân đèn phía ngoài. Tôi quỳ xuống, rồi nằm nghiêng hẳn trên nền gạch lạnh, luồn nửa người vào gầm bàn, đèn pin chiếu thẳng lên mặt gỗ phía dưới, chỗ không ai từng nghĩ tới việc lau chùi trong suốt hơn ba trăm năm.
Ánh đèn quét qua một lớp bụi mỏng, mạng nhện cũ khô cong ở góc, rồi dừng lại.
Cả mặt gỗ chi chít những nét khắc nhỏ, đều tay, sâu vừa phải, xếp thành từng cột sát nhau không chừa khoảng trống, giống hệt kiểu chữ tôi từng thấy trong sổ chữ của cụ Trạc, nhưng dày đặc hơn nhiều lần. Tim tôi đập nhanh hẳn lên, tay cầm đèn hơi run, khiến vệt sáng rung theo trên mặt gỗ.
"Chị thấy gì đấy?" Miên hỏi khẽ từ ngoài, giọng đã đổi khác, không còn đùa cợt như lúc trên đường.
Tôi không trả lời ngay, mắt vẫn dán vào những cột chữ khắc. Tôi cố đọc một cột gần nhất, đưa mắt từ trên xuống dưới theo thói quen đọc sổ chữ, nhưng không ra được nghĩa gì, các nét không xếp thành một chữ nào tôi từng thấy, dù hình dạng nét khắc, độ sâu, cách chạm lưỡi dao, tất cả đều quen mắt như thể cùng một bàn tay đã khắc ra sổ chữ ở nhà cụ Trạc.
Tôi nhích người sang một cột khác, thử đọc từ dưới lên thay vì từ trên xuống. Vẫn không ra chữ nào tôi nhận được mặt. Ánh đèn quá gắt một chỗ, quá tối những chỗ còn lại, và tôi nằm nghiêng dưới gầm bàn không có cách nào lùi ra đủ xa để nhìn được cả một cột cùng lúc.
Tôi nằm im dưới gầm bàn thêm một lúc, đèn pin chiếu nguyên một chỗ, cố nhớ lại một điều mình biết từ hồi học về khắc in cổ, chưa bao giờ nghĩ sẽ dùng tới ở đây. Ông Trổ là thợ khắc ván in kinh sách, nghề của ông là khắc chữ ngược để khi ép giấy lên mới hiện ra chữ xuôi. Nếu đây đúng là một tấm ván in, thì nó không được làm ra để đọc trực tiếp bằng mắt như đọc một trang sổ. Người khắc ra nó không định cho ai nhìn thẳng vào mặt này cả. Và ai đó, đời nào không rõ, đã lật tấm ván lại, biến mặt khắc thành mặt dưới, mặt trơn phía sau thành mặt trên, cho nó sống tiếp một đời khác dưới hình một cái bàn thờ.
Tôi rút người ra khỏi gầm bàn, đứng dậy, phủi bụi trên áo, tay vẫn còn run nhẹ. Ông Thu đang đứng đó, tay vẫn giữ bát hương, mặt đầy vẻ chờ đợi một câu trả lời đơn giản về mộng ghép chân bàn.
"Có gì lạ không cô?" Ông hỏi.
"Chân bàn ghép chắc lắm bác ạ." Tôi nói, chọn từng chữ cho khỏi lộ ra điều gì khác. "Cháu xin phép, hôm khác cháu quay lại xin bác cho cháu đo với chụp thêm ít ảnh được không, cháu cần ánh sáng tốt hơn chỗ này."
Ông Thu gật, không nghi ngờ gì, bảo lúc nào tôi tới cứ gọi trước, ông cho vào thoải mái, đằng nào ông cũng ở nhà quanh năm.
Ra tới ngõ, Miên nhìn tôi, không hỏi gì thêm, chỉ đi chậm lại cho ngang tôi.
"Có thật không đấy?" Cô hỏi, rất khẽ, dù đã cách nhà ông Thu một quãng xa.
Tôi gật, chưa nói được gì ngay, đầu vẫn còn nguyên hình ảnh những cột chữ khắc ngược nằm im dưới đáy một cái bàn thờ suốt hơn ba trăm năm, chờ đúng một người biết nằm xuống mà nhìn lên. Tôi biết mình vừa tìm đúng vật. Nhưng để đọc được nó, thay vì chỉ nhận ra nó, tôi sẽ cần nhiều hơn một cái đèn pin điện thoại và một buổi sáng vội vàng dưới gầm bàn thờ nhà người khác. Tôi sẽ cần giấy dó, than củi, và một chỗ đủ sáng để không phải đoán mò từng nét một lần nữa.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 71 →