Xe khách thả tôi xuống đúng chỗ ngã ba dưới dốc Nghẹo, nơi ba tháng trước tôi từng đứng gọi điện báo cho cô Sính là tôi đã tới nơi. Lúc đó trời mưa, đường trơn, khe Mọ réo ầm dưới chân dốc, nước đỏ ngầu cuốn theo cả cành cây. Bây giờ khe cạn tới mức nhìn thấy từng viên đá cuội dưới đáy, và gió thổi từ phía núi đá vôi xuống lạnh khô, không phải cái lạnh ẩm của mưa, mà cái lạnh làm môi nứt, làm tay phải thọc sâu vào túi áo khoác.
Tôi đi bộ xuống, ba lô nặng hơn lần đầu vì mang thêm cái đèn pin đội đầu và một cuộn giấy dó cô bán hàng vật liệu mỹ thuật ở phố Nguyễn Thái Học gói cẩn thận cho tôi, dặn để nơi khô ráo. Cây gạo đầu làng trụi hết lá, chỉ còn cành khô chĩa lên trời xám. Mấy thửa ruộng bậc thang bên đường đã gặt xong từ lâu, rạ khô đứng thành từng luống, có nhà đang đốt, khói bay là là sát mặt đất vì không có gió bốc lên.
Qua sân đình, tôi gặp bà chủ quán tạp hoá đang dồn củi vào bao, chào tôi bằng đúng câu ai gặp ai mùa này cũng hỏi, năm nay củi có đủ đun tết không. Hai đứa nhà ông Chuân chạy qua, tay ôm mấy bó rơm, không dừng lại nói chuyện, chỉ hét vọng lại một câu chào rồi chạy tiếp. Cả xóm đang ở giữa mùa chuẩn bị, không ai rảnh đứng lâu ngoài đường trong cái lạnh này.
Cụ Trạc ngồi ở hiên khi tôi tới, khoác thêm cái áo bông ngoài áo len, cổ quấn khăn len màu nâu, nhưng lần này khăn buộc gọn, không phải để che vết băng như hôm ở viện về. Cụ đang bóc một rổ lạc, tay chậm nhưng đều. Con dao tước lạt ngày trước giờ để yên trên cái giá tre đóng vào cột hiên, lưỡi đã lau sạch, không còn dựng dưới chân cột như hồi cụ còn tự tước được cả buổi không nghỉ.
"Cô về." Cụ nói, hai từ, rồi dừng lại thở một nhịp trước khi nói tiếp. "Đi đường có mệt không."
Giọng cụ vẫn khô, vẫn phải lấy hơi giữa chừng câu, nhưng đã thành tiếng rõ ràng, không còn phải ghé sát tai mới nghe được như hôm ở viện về. Tôi đặt ba lô xuống bậc thềm, ngồi xuống cạnh rổ lạc.
"Cháu không mệt ạ. Cụ nói được nhiều hơn rồi."
"Bác sĩ bảo được nói ngắn." Cụ nhặt một hạt lạc lép, ném ra sân cho con gà đang đứng chờ sẵn. "Câu dài vẫn chưa được. Nói xong hai ba câu là phải nghỉ."
"Cụ ăn được nhiều hơn không ạ?"
"Cháo với cơm nát." Cụ đáp. "Bà Rớt vẫn mang qua đều, ngày nào cũng có, không ai nhờ."
Tôi hỏi thêm vài câu vặt, chuyện cái bể nước xóm Trên bơm thử ra sao, chuyện thầy Dền có bắt bọn trẻ nghỉ đông sớm không vì rét, cụ trả lời từng câu một, ngắn, kèm một khoảng nghỉ giữa chừng để lấy hơi. Tôi để ý cụ không còn phải nhắm mắt lại sau mỗi câu như hôm ở viện về, chỉ hơi cúi đầu, hít vào, rồi nói tiếp.
Tôi kể cho cụ nghe chuyện ở Hà Nội, cố nói ngắn gọn như cụ vẫn quen, không dài dòng: chuyện cái tủ, cái tên viết bên lề sổ khám bệnh, cô Tâm, lớp mầm chồi, đứa trẻ buột miệng đúng cái âm mẹ tôi từng hỏi xin. Cụ nghe, tay vẫn bóc lạc, không dừng lại lần nào, chỉ có một lần, lúc tôi kể tới đoạn đứa trẻ, tay cụ chậm hẳn đi trong khoảng ba bốn hạt.
"Bảy năm." Cụ nói, khi tôi kể xong. "Không ai nuôi mà nó vẫn sống."
"Cháu không biết còn bao lâu nó mới nhạt hẳn. Cháu cũng không biết có nên can thiệp không, vì cháu sợ giống hồi nhợn."
Cụ gật, chậm, rồi ngồi im một lúc, nhìn ra sân, nơi khói đốt rạ từ ruộng nhà ai đó bay là là qua hàng rào cúc tần. Tôi chờ, không giục, vì tôi đã học được cách chờ cụ.
"Tôi gọi cô về." Cụ nói, cuối cùng. "Không phải chỉ để nghe chuyện đó."
Tôi ngồi thẳng lại.
"Có một chỗ." Cụ nói, mỗi từ tách rời, như đang xếp từng viên gạch. "Xóm Trại. Nhà thờ họ Đặng."
"Họ Đặng ạ?"
"Ông nội tôi nhắc một lần, lúc tôi còn bé." Cụ bóc nốt hạt lạc trong tay, đặt vào rổ, rồi để hai tay không lên đùi, như đã xong việc và giờ chỉ còn việc nói. "Ông bảo, họ Đặng ở xóm Trại là con cháu ông Trổ. Không phải cùng một nhà với làng mình bây giờ. Tách ra từ rất lâu, dọn sang xóm Trại, đổi cách xưng, nhưng vẫn giữ họ."
"Cụ có biết vì sao tách không ạ?"
Cụ lắc đầu, một cái, ngắn.
"Không biết. Chỉ biết ông Trổ, cả làng gọi tắt vậy, tên đầy đủ là Đặng Văn Trổ. Ông nội tôi vẫn gọi đủ ba chữ, không bao giờ gọi tắt như người khác."
Tôi lấy sổ tay ra, viết vội mấy chữ, rồi dừng bút, nhìn cụ.
"Cụ nghĩ quyển nghĩa ở đó ạ?"
"Tôi không biết chắc." Cụ nói. "Ông nội tôi chỉ bảo, nhà đó có giữ một thứ của cụ tổ để lại, gỗ tốt, không ai được đổi, không ai được bán. Ông không nói rõ là cái gì. Tôi cũng chưa bao giờ hỏi thêm."
"Sao cụ chưa bao giờ tới hỏi ạ? Bao nhiêu năm rồi mà."
Cụ nhìn tôi, lần đầu từ lúc tôi ngồi xuống, ánh mắt không có vẻ trách, chỉ có vẻ như đang cân nhắc xem nên trả lời thế nào cho đủ mà không phải nói dài.
"Không muốn khơi lại chuyện của người ta." Cụ nói. "Nhà đó không biết gì. Sống yên với cái bàn thờ của họ bao nhiêu năm nay. Tôi mà tới hỏi, chỉ làm họ lo, mà chưa chắc đã ra được cái gì."
"Cụ sợ hỏi rồi không ra gì, mà vẫn làm xáo trộn nhà người ta."
"Đúng thế." Cụ nói, gật một cái. "Cả đời tôi giữ sổ, tôi chỉ sợ đúng một việc. Không phải sợ chữ mất. Sợ mình làm phiền người không đáng bị phiền."
"Nhưng giờ cụ lại nói với cháu."
"Giờ khác." Cụ nói, ngắn gọn, rồi im, như để câu đó tự đứng một mình không cần giải thích thêm.
Tôi không hỏi thêm ý cụ là gì. Tôi nghĩ mình hiểu: hai mươi đứa trẻ ở một lớp học cách đây hai trăm cây số, một cái sẹo hình cầu thang tôi vẫn mang trong đầu từ ngày đầu tiên, và một cụ già vừa qua một ca mổ suýt mất hẳn giọng. Cái gì cũng đang nhắc rằng thời gian không còn nhiều như trước.
"Miên quen nhà đó." Cụ nói thêm, sau một lúc. "Bạn học cũ với đứa cháu ông Thu. Cô nhờ Miên đi cùng, dễ nói chuyện hơn."
"Ông Thu là người thế nào ạ?"
"Hiền." Cụ đáp, không nghĩ ngợi. "Làm ruộng, nuôi mấy con bò, coi cái nhà thờ họ như coi giữ mồ mả. Không phải người khó. Nhưng cô đừng nói thẳng ra cô đi tìm cái gì."
"Cháu định nói thế nào ạ?"
"Nói cô làm đề tài về nhà cổ, đồ gỗ cũ trong vùng." Cụ nói, rồi dừng lại, thở một hơi. "Đúng một nửa. Cô vẫn đang làm đề tài. Chỉ không nói hết."
Tôi gật, ghi thêm vào sổ tay một dòng, rồi gấp sổ lại.
"Cháu sẽ hỏi Miên ạ."
Cụ gật, cầm rổ lạc lên, đứng dậy, chậm, một tay vịn vào cột hiên. Tôi đứng lên theo, định đỡ, nhưng cụ đã đứng vững, tự đi vào trong nhà, để rổ lạc lên bậu cửa sổ cho ráo gió.
Tôi thu dọn sổ tay, chuẩn bị ra về, vì trời đã xẩm tối, gió lạnh hơn hẳn lúc chiều. Ra tới cổng, tôi quay lại chào, cụ vẫn đứng ở cửa nhìn theo, một tay vịn khung cửa.
"Cô Hoài." Cụ gọi, đây là lần hiếm hoi cụ gọi tôi bằng cả tên. Tôi dừng lại.
Cụ nói chậm, từng chữ, để dành hơi cho hết câu, giọng khô nhưng rõ, không phải thều thào như hôm ở viện về nữa.
"Ông Trổ không phải người tốt bụng đâu. Ông ấy là người cẩn thận. Hai cái đó không giống nhau."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 70 →