Cô Sính ở tầng hai một căn nhà trong ngõ bên Thanh Xuân, cầu thang hẹp, tay vịn sắt lạnh buốt. Tôi gọi điện từ tối hôm trước, nói cháu xin gặp cô một lúc trước khi cháu đi. Cô bảo chín giờ sáng chủ nhật, đừng tới sớm hơn, cô còn đi chợ.
Chín giờ kém mười tôi đã đứng dưới ngõ, nên tôi đi ngược ra đầu phố mua hai cân cam, rồi quay lại bấm chuông cho đúng giờ.
Phòng khách nhà cô cũng là chỗ làm việc. Một cái bàn gỗ kê sát cửa sổ, trên bàn là chồng khoá luận đóng bìa xanh xếp thành hai cột, cây bút đỏ gác ngang một quyển đang mở, cặp kính lão để úp lên trang giấy. Góc nhà có cái quạt bàn bọc trong túi ni lông, buộc dây chun, cất từ đầu mùa lạnh. Ngoài ban công phơi mấy cái áo len và một rổ cải cúc chưa nhặt.
"Cháu gầy đi." Cô rót nước sôi tráng ấm, đổ ra chậu, rồi bỏ trà vào. "Ba tháng trên đó ăn uống ra sao?"
"Cháu ăn cơm nhà chủ ạ. Cũng đủ."
"Đủ mà xuống bốn cân à." Cô đặt ấm xuống, kéo ghế ngồi đối diện tôi. "Bản tổng hợp cuối cháu gửi cô đọc rồi. Sáu trăm mười hai mục là nhiều. Cháu định bảo vệ vào đợt tháng sáu hay để sang đợt cuối năm?"
"Cô ơi," tôi nói, "cháu tới không phải để bàn chuyện bảo vệ ạ."
Cô cầm chén trà lên, chưa uống, đặt lại xuống đĩa.
"Ngày đầu tiên cháu lên tới nơi, cháu đứng ở dốc Nghẹo gọi cho cô. Cô dặn cháu giấy giới thiệu, hoá đơn, pin tiểu, dặn đừng hứa cái gì mình không trả được." Tôi nói chậm, từng ý một, đúng thứ tự tôi đã sắp trong đầu suốt mấy hôm nay. "Rồi cô im một nhịp. Xong cô dặn thêm một câu nữa. Cô bảo nghe gì lạ thì đừng vội viết vào."
"Cô nhớ." Cô nói ngay, không cần nghĩ.
"Câu đó không nằm trong danh sách những thứ cô dặn. Nó ở ngoài danh sách. Ba tháng nay cháu nghĩ lại nó không biết bao nhiêu lần." Tôi nhìn thẳng vào cô. "Rồi tháng mười một cháu hỏi cô về người điền dã năm tám tám. Cháu chưa nói tên ai cả, cô đã nói ra tên thầy Cẩn. Cô nói rồi cô im. Cô bảo cô không nhớ rõ nữa, xong cô hỏi cháu hoá đơn xăng xe."
"Cháu định hỏi cô cái gì?" Cô hỏi, giọng vẫn đều.
"Cô có biết trước ở đó có gì không ạ?"
Cô không trả lời. Cô với tay lấy cặp kính trên chồng khoá luận, gập hai càng lại, đặt xuống mặt bàn, rồi đẩy nó sang bên trái chừng một gang tay, như đang dọn chỗ cho một thứ khác sắp phải để lên đấy. Tiếng nước trong ấm siêu tốc dưới bếp reo lên rồi tự ngắt. Ngoài ngõ có ai đó gọi con về ăn cơm.
"Cô không biết ở đó có gì." Cô nói, và đó là câu đầu tiên trong buổi sáng hôm ấy cô nói chậm. "Tới bây giờ cô vẫn không biết. Cô chỉ biết là ở đó đã có chuyện với một người."
"Thầy Cẩn ạ."
"Ừ."
Cô đứng dậy, đi vào buồng trong. Tôi nghe tiếng ngăn kéo mở, tiếng giấy tờ lật, rồi cô ra, cầm theo một phong bì giấy đã ố vàng ở mép. Cô rút trong đó ra một tấm ảnh và đặt xuống bàn, quay về phía tôi.
Ảnh đen trắng, chụp trước cửa một dãy nhà cấp bốn, sáu bảy người đứng thành hàng, ai cũng gầy, ai cũng mặc áo sơ mi. Cô Sính đứng ngoài cùng bên phải, trẻ măng, tóc tết. Người đàn ông đứng giữa, cao, đeo kính gọng nhựa, một tay cầm cặp tài liệu.
Hôm ở chợ Hồi Xuân, cô bảo cô còn giữ một tấm ảnh chụp chung, để đâu quên rồi. Từ lúc tôi hỏi tới lúc cô cầm nó ra, không quá một phút.
"Thầy dạy cô phương ngữ học, sau hướng dẫn cô làm cái luận án đầu." Cô nói, mắt vẫn để trên tấm ảnh. "Thầy đi thực địa nhiều nhất khoa hồi đó. Viết nhanh, viết chắc, chấm bài của học trò đau như tát. Năm tám tám thầy lên thung Nác. Cuối năm về."
"Rồi sao ạ?"
"Rồi thôi." Cô nói. "Từ đó tới lúc mất, hai ba năm, thầy không viết thêm một chữ nào. Không bài báo, không giáo trình, không hướng dẫn ai nữa. Vẫn lên lớp, vẫn coi thi, vẫn đi họp khoa đủ, nhưng không viết. Ai hỏi thì thầy bảo bận."
Tôi ngồi yên, hai tay để trên đầu gối. Cụ Trạc cũng nói với tôi đúng chừng ấy chữ, ngồi tước tre ngoài hiên: về cuối năm tám tám, không bao giờ lên lại, không viết một chữ.
"Cô có hỏi thầy không ạ?"
"Có. Một lần." Cô kéo tấm ảnh về phía mình, lật úp xuống mặt bàn. "Năm chín tư, khoa làm một chương trình khảo sát phương ngữ mấy huyện miền tây. Cô là thư ký, cô lập danh sách điểm khảo sát, mười một điểm, đưa thầy duyệt. Thầy cầm bút đỏ, gạch một điểm, trả lại cô. Không viết lý do."
"Thung Nác ạ."
"Ừ." Cô nói. "Cô hỏi thầy sao lại bỏ chỗ này, chỗ này đi lại còn tiện hơn mấy chỗ kia. Thầy bảo chỗ này bỏ đi. Cô hỏi thêm một câu nữa. Thầy nói, cô Sính ạ, chỗ nào đã đến rồi mà về được thì nên về, đừng viết gì. Xong thầy chuyển sang nói chuyện kinh phí xe cộ."
Tôi nghe rất rõ tiếng máy giặt nhà ai đó bên dưới bắt đầu quay vắt.
"Cô hỏi được đúng ngần ấy trong ba mươi hai năm." Cô nói. "Cô không biết ở đó có gì. Cô không tin ma quỷ, cô cũng không nghĩ thầy sợ ai. Cô chỉ nghĩ, chỗ đó là một chỗ nguy hiểm theo cái cách không có tài liệu nào ghi lại được. Nguy hiểm với người làm nghề chữ nghĩa."
"Vậy sao cô lại gửi cháu vào đó ạ?"
Đây là câu tôi đã tập trong đầu suốt hai hôm, tập nhiều lần đến mức khi nói ra tôi nghe nó nhẹ hơn tôi tưởng. Cô Sính ngẩng lên nhìn tôi, và trong một khoảng bằng mấy nhịp thở, tôi thấy cô già hẳn đi so với lúc cô mở cửa cho tôi.
"Cháu nhớ cái đề cương cháu nộp cô tháng tư không." Cô nói. "Cháu đề xuất ba điểm. Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh. Cô gạch cả ba, cô viết tay xuống dưới một dòng."
"Cháu nhớ ạ. Cháu tưởng là cô có quan hệ ở xã đó nên đi lại dễ hơn."
"Không. Cô không quen ai ở đấy cả." Cô nói. "Cô viết dòng đó xong, cô ngồi thêm nửa tiếng ở phòng khoa, cô cân nhắc kỹ. Cô không gửi cháu vào một chỗ cô coi là an toàn. Cô gửi cháu vào đúng cái chỗ thầy cô đã gạch bỏ, và cô biết mình đang làm gì."
"Sao ạ."
"Vì cô nghĩ cháu sẽ không làm giống thầy." Cô nói, và giọng cô, lần đầu trong buổi sáng hôm ấy, mất cái nhịp gọn gàng thường ngày. "Cô dạy hai mươi mấy năm rồi. Cô nhìn quen sinh viên lắm. Năm cháu học năm hai, bài tập cuối kỳ, cô cho cả lớp một bảng ngữ liệu thiếu, ba mươi sáu đứa điền đủ cả bảng. Riêng cháu để trống bốn ô, ghi ra lề là chưa đủ căn cứ để kết luận. Cô nhớ cái bài đó tới bây giờ. Cô chấm cháu điểm cao nhất khoá."
Tôi nhìn xuống chén trà đã nguội hẳn trên đĩa, không cầm lên.
"Cô nghĩ ở đâu cần một người biết dừng thì cháu là người biết dừng." Cô nói. "Thầy cô giỏi hơn cháu nhiều. Nhưng thầy là người viết trước rồi hiểu sau. Cô đặt cược là cháu khác. Cô đặt cược một lần, bằng người khác, và cô không hỏi ý cháu."
Tôi để câu đó nằm im giữa hai chúng tôi một lúc.
"Cháu có gặp chuyện gì ở đó không?" Cô hỏi.
"Cháu chưa biết nói thế nào cho cô hiểu ạ." Tôi trả lời thật. "Cháu cũng chưa muốn nói khi chưa chắc."
Cô gật, không hỏi thêm một câu nào nữa, và tôi biết ơn cô vì điều đó hơn cả những gì cô vừa kể. Cô cầm tấm ảnh lên, cho lại vào phong bì, gấp mép phong bì xuống bằng ngón cái, chậm, hai lần.
"Cô không có ác ý với cháu." Cô nói. "Nhưng cô nghĩ suốt từ hôm cháu hỏi cô về thầy Cẩn tới giờ. Nếu bây giờ cháu bảo cô là cô sai, cô không cãi được câu nào."
Ba tháng trước tôi xuống dốc Nghẹo với hai mươi mốt cân ba lô và một danh sách bốn mươi mốt cái tên, tưởng mình là người đầu tiên bước vào một chỗ chưa ai ghi. Bây giờ tôi ngồi đây, biết mình là người thứ hai được cầm bút đỏ chỉ vào cái thung ấy, và người cầm bút không phải tôi.
Cô đứng dậy, xách ấm ra bếp đổ bã, rồi quay lại, vẫn đứng, tay vịn lưng ghế.
"Cô có định quay lại đó không?"
Cô gọi tôi bằng cô. Năm năm trời, kể cả lúc bảo vệ đề cương trước hội đồng, chưa lần nào cô gọi tôi như thế. Tôi gật đầu.
Cô nhìn tôi thêm một nhịp, rồi nói.
"Cẩn thận."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 69 →