Tiếng ồn ập vào tôi trước khi tôi kịp bước hết qua cổng. Không phải tiếng ồn của một đám đông, mà tiếng ồn riêng của trẻ con, cao, ngắt quãng, không theo nhịp nào, xen giữa tiếng nhạc phát ra từ một cái loa nhỏ đặt góc sân, bài hát thiếu nhi quen thuộc lặp đi lặp lại vài câu.
Lớp học nằm trong một căn nhà ba tầng cải tạo, tầng một thông ra sân chơi lát cao su màu, có cầu trượt nhựa, mấy con thú bập bênh sơn xanh đỏ đã bạc màu vì nắng mưa. Giờ này là cuối buổi, phụ huynh đón lác đác, còn lại chừng hai chục đứa trẻ tụ ở một góc lớp, ngồi khoanh chân thành vòng tròn quanh một cô giáo.
"Em là Hoài phải không? Vào đây, vào đây, cô đang cho các con hát nốt bài trước khi tan lớp." Cô Tâm vẫy tay gọi tôi, giọng to để át tiếng ồn xung quanh, rồi quay lại phía đám trẻ, vỗ tay hai cái ra hiệu.
Tôi đứng ở mép lớp, không dám bước vào giữa, chỉ gật đầu chào rồi đứng nhìn. Cô Tâm ngoài năm mươi, dáng người tròn, mặc áo phông cổ tròn in hình con voi, tóc buộc gọn sau gáy, khuôn mặt có kiểu tươi tắn của người quen làm việc với trẻ con cả ngày, không mệt mỏi dù đã cuối buổi.
Bọn trẻ hát xong một bài, cô Tâm cho chúng đứng dậy, dặn đứa nào ba mẹ chưa tới thì ngồi chơi ở góc đồ chơi, rồi mới bước ra chỗ tôi, kéo hai cái ghế nhỏ xíu lại gần một cái bàn thấp sát tường.
"Ngồi tạm ghế trẻ con nhé, cô không có ghế người lớn trong lớp đâu." Cô cười, ngồi xuống, hai đầu gối cao gần ngang ngực vì ghế quá thấp so với người lớn. "Em gọi hôm qua, cô mừng lắm. Bao nhiêu năm rồi cô không có tin gì của nhà bà Hà, cứ nghĩ mãi không biết có nên tìm lại không, ngại làm phiền."
"Dạ, con cũng mới tìm ra số cô qua chỗ bệnh viện cũ." Tôi ngồi xuống, hai tay đặt lên đùi. "Con thấy tên cô ghi trong sổ khám bệnh của mẹ con, hỏi ra mới biết cô dạy ở đây."
"Ừ, hai đứa cô học chung trường cấp ba, ngồi cùng bàn hai năm liền. Ra trường thì mỗi người một ngả, cả chục năm mới gặp lại nhau ở một đám cưới, hoá ra hai nhà lại ở gần nhau, cách có hai dãy." Cô Tâm kể, giọng chậm lại, mắt nhìn ra khoảng sân ngoài kia. "Lúc nghe tin cô ấy bệnh, cô tranh thủ vào thăm được mấy lần, không nhiều, vì dạo đó lớp cũng đông, khó xin nghỉ."
Cô kể về những buổi chiều vào viện, kể mẹ tôi nằm đó vẫn hay hỏi thăm chuyện lớp học, chuyện bọn trẻ, dù người đã yếu lắm. Cô kể có hôm mang theo mấy cái kẹo cho vui, ngồi cả tiếng đồng hồ chỉ để nói chuyện phiếm, chuyện thời con gái, chuyện mấy đứa bạn học cũ giờ đứa nào đứa nấy đã lên chức bà.
"Cô Xuyến, y tá hồi đó, có kể với con là mẹ con hay lẩm bẩm một tiếng gì đó những ngày cuối." Tôi nói, cố nói câu này bình thường như một chi tiết vặt trong câu chuyện. "Cô Xuyến bảo cô có nghe thấy, và có lần cô còn bắt chước lại chọc mẹ con cười."
"À, cái đó á." Cô Tâm bật cười, một tiếng cười thật lòng, không có gì phòng bị. "Đúng rồi, cô nhớ chứ. Buồn cười lắm, cô ấy cứ nói đi nói lại một tiếng, nghe là lạ, không phải tiếng Việt, cũng chẳng phải tiếng Anh tiếng Tây gì cô biết. Cô tưởng cô ấy nói mê ban đầu, sau thấy cô ấy tỉnh, mắt sáng, nói xong còn nhìn mình chờ đợi, cô mới đoán là cô ấy đang nói chuyện với ai đó thật, chỉ là mình không hiểu."
"Cô còn nhớ nó nghe như thế nào không ạ?"
Cô Tâm nheo mắt, cong miệng, thử phát ra một âm gì đó, môi trề nhẹ, lưỡi lùi về sau, một âm ngắn, có một chỗ nghẽn nhỏ ở cuối. Tôi ngồi đó, nghe đúng cái âm mình từng đứng giữa đường bê tông ở thung Nác, tự tay mình cũng đã ướm miệng vào, nghe nó bật ra từ một người phụ nữ ngoài năm mươi tuổi ở giữa Hà Nội, người chưa từng nghe tới tiếng trong, chưa từng đặt chân tới Kẻ Sồi.
"Đại khái vậy, cô cũng không chắc là đúng, lâu rồi." Cô Tâm cười, không biết mình vừa làm gì. "Cô thấy vui vui, cứ nhại lại chọc cô ấy, cô ấy cười, dễ thương lắm. Mấy hôm sau thì cô ấy mất."
Tôi ngồi im, hai tay vẫn để trên đùi.
"Sau đó cô có còn nói cái âm đó nữa không ạ?"
Cô Tâm nhìn tôi, hơi ngạc nhiên vì câu hỏi, rồi gật đầu, thoải mái, không ngờ vực gì.
"Có chứ. Cô lấy nó làm một trò cho lớp luôn." Cô đứng dậy, đi tới góc treo mấy tấm bảng vẽ hình con vật, chỉ vào một tấm có vẽ mấy đứa trẻ nắm tay nhau thành vòng tròn. "Cô nghĩ ra một trò vỗ tay gọi bạn, đứa nào bị gọi tên thì phải chạy vào giữa vòng, trước khi gọi tên thì cả lớp vỗ tay hai cái rồi hô cái âm đó lên, như một tiếng hiệu, vui tai, trẻ con thích lắm. Cô đặt tên trò đó trong đầu là âm của bà Hà, chỉ cô biết thôi, chẳng ai hỏi cô cũng chẳng giải thích cho ai."
"Cô dùng trò đó bao lâu rồi ạ?"
"Chắc bảy năm rồi đấy, từ hồi mẹ em mất tới giờ." Cô Tâm ngồi lại xuống ghế, không mảy may nghĩ ngợi gì về câu hỏi. "Lớp cô mỗi năm mỗi khác, các con ra trường hết lớp này tới lớp khác, nhưng trò chơi đó cô vẫn giữ, cứ tới giờ sinh hoạt chung là chơi, vui, các con thích, nhớ mặt nhau nhanh hơn."
Tôi ngồi ở cái ghế nhỏ xíu đó, cố hình dung con số. Bảy năm, mỗi năm một lớp mới, mỗi lớp chừng hai chục đứa trẻ, chưa kể những lớp cô Tâm từng dạy ở nơi khác trước khi mở lớp riêng này. Hàng trăm cái miệng nhỏ, không đứa nào biết mình đang làm gì, đã hô lên đúng cái âm ấy, đều đặn, năm này qua năm khác, như một phần của một trò chơi vô hại, một tiếng hiệu để gọi bạn vào giữa vòng tròn.
Ngay lúc đó, từ phía góc đồ chơi, một đứa bé trai chừng bốn tuổi, đang xếp mấy khối gỗ chồng lên nhau, khối trên cùng đổ nhào xuống sàn. Nó ngẩng lên, không khóc, chỉ nhìn khối gỗ lăn ra xa, rồi buột miệng nói một tiếng, ngắn, rõ, đúng cái âm đó, giọng bực dọc trẻ con bình thường, như người ta buột miệng chửi thề nhẹ khi làm rơi đồ.
Không ai trong phòng để ý. Một đứa bé khác cười khúc khích. Cô giáo trợ giảng ở góc kia gọi mấy đứa lại chuẩn bị đồ để ba mẹ đón. Loa vẫn phát bài hát thiếu nhi, tới đúng đoạn điệp khúc.
Tôi ngồi yên trên cái ghế thấp, hai đầu gối gần chạm cằm, nghe cái âm đó vừa vang lên từ một đứa trẻ tôi chưa từng gặp, chưa từng biết tên, trong một căn phòng cách thung Nác hai trăm cây số, và tôi hiểu ra một điều mà cả buổi tối qua tôi vẫn nghĩ mình đã hiểu, nhưng chỉ tới lúc này mới thật sự chạm được vào kích cỡ của nó. Cái âm ấy không dừng lại ở mẹ tôi. Nó không rơi vào im lặng sau khi bà mất. Nó đã tìm được một chỗ để sống tiếp, một cái nôi làm bằng một trò chơi trẻ con vô hại, được nuôi liên tục, đều đặn, đúng nhịp, suốt bảy năm, bởi hàng trăm cái miệng không đứa nào biết chúng đang làm gì.
"Con vẽ hay quá cô Tâm ơi, xem này." Một đứa bé gái chạy lại, giơ tờ giấy có nguệch ngoạc vài hình tròn, cô Tâm quay sang khen, xoa đầu nó, hoàn toàn không nhận ra gì khác thường vừa xảy ra cách đó vài bước chân.
Tôi nhìn cô, dáng ngồi thoải mái, nụ cười thật, đôi mắt không có một chút gợn nào của người biết mình đang giữ trong tay một thứ nguy hiểm. Cô không có lỗi. Cô sẽ không bao giờ biết mình có lỗi hay không, vì với cô không có gì để mà có lỗi cả, chỉ có một người bạn cũ, một tiếng cười trong một buổi chiều bệnh viện đã lâu, và một trò chơi cô nghĩ ra để các con nhớ mặt nhau nhanh hơn.
Tôi ở lại thêm một lúc, nói vài câu chuyện phiếm với cô Tâm, xin số điện thoại, hứa khi nào rảnh sẽ ghé thăm lại, rồi đứng dậy chào ra về khi phụ huynh bắt đầu tới đông hơn, tiếng gọi tên con, tiếng dép lê ngoài cửa, tiếng xe máy nổ máy chờ ngoài ngõ.
Trước khi ra khỏi cổng, tôi quay lại nhìn một lần nữa vào trong lớp, nơi những đứa trẻ còn lại đang xếp hàng lấy cặp sách, mấy đứa vẫn ríu rít nói chuyện không đầu không cuối với nhau. Hai mươi đứa trẻ, có lẽ hơn, nếu tính cả những lứa đã ra trường từ bảy năm nay, tất cả đều đã từng, ít nhất một lần, đứng trong vòng tròn đó, vỗ hai cái tay, và hô lên đúng cái âm mà một ngôi làng cách đây hai trăm cây số gọi là một chữ trống. Tôi không hỏi ra tiếng, chỉ đứng đó, cổng sắt trong tay, tự hỏi nếu một ngày nào đó cái trò chơi này ngừng lại, không còn ai hô cái âm ấy nữa, thì có bao nhiêu đứa trong số này sẽ mất một thứ gì đó mà chính chúng, và cả tôi, chưa từng biết tên.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 67 →