Tôi ngồi ở hiên tới gần một giờ sáng, thắp bằng cái bóng đèn bà Rớt vẫn kéo dây ra sân mỗi khi nhà có cỗ.

Trên bàn có bốn cuốn sổ tay, cuốn bìa cứng tôi chép sổ chữ, cái bảng con vẫn để nguyên chưa xoá, và một cái thước kẻ nhựa. Tôi dùng cái thước ấy làm việc suốt buổi tối: đặt nó che kín cột lời giảng, chỉ để hở cột âm, rồi đọc thầm từng mục một. Nếu nhìn thấy chữ mình viết thì tôi sẽ nhìn ra cái tôi muốn nhìn. Cái này tôi được dạy từ năm thứ hai, và đây là lần đầu tiên tôi dùng nó để tra chính mình.

Sáu trăm mười hai mục. Tôi đi hết trong bốn tiếng, không bỏ mục nào, kể cả những mục tôi biết chắc là tên các loại cỏ.

Cách làm thì đơn giản tới mức buồn cười. Tôi đọc cái âm lên trong đầu, rồi tôi với xuống chỗ sâu kia, nơi cái hình mòn nhẵn ấy nằm, và tôi thử ướm hai thứ vào nhau như ướm nắp vào miệng chai. Với bốn mươi tư cái hình mới thì việc ướm này có lúc ăn, có lúc trượt, nhưng bao giờ cũng có cảm giác gì đó. Với cái hình cũ thì không. Không một mục nào trong sáu trăm mười hai mục làm nó động đậy.

Gần nửa đêm tôi chuyển sang cuốn bìa cứng.

Trong đó là phần tôi chép lại từ ảnh chụp sổ chữ, tới nay được hơn ba trăm cột, cột nào ra cột ấy, số thứ tự ghi nhỏ ở lề trong. Những cột đầy thì có âm, có nghĩa, có chỗ tôi chú thêm bằng ký hiệu phiên âm quốc tế. Những cột trống thì chỉ có âm và một khoảng giấy trắng dài bằng ba dòng.

Tôi đọc hết chỗ cột đầy trước. Không có gì.

Rồi tôi đọc sang chỗ cột trống, và đọc được chừng hai chục cột thì dừng, vì tôi nhận ra mình đang làm một việc vô nghĩa. Một cột trống thì không có vật nào đứng sau nó. Không có vật thì không có hình để mà ướm. Tôi đang cầm một cái nắp đi tìm miệng chai giữa một cái kho không có chai nào.

Tôi gấp cuốn bìa cứng lại, để tay lên bìa, và ngồi yên.

Tất cả những cái hình khác trong đầu tôi đều có ngày. Cái thang gác bếp, mồng bốn tháng chín. Bốn mươi tư cái đêm hai mươi tư tháng mười một. Chúng vào tôi trong ba tháng qua, ở đây, trong thung này, và chúng vào được là vì tôi có mặt trong lúc cái miệng cuối cùng của chúng đóng lại.

Cái hình kia có trước ngày mồng một tháng chín.

Trước ngày mồng một tháng chín, tôi chưa nói một chữ tiếng trong nào trong đời. Tôi chưa nghe ai nói. Tôi không biết trên đời có một cái làng tên Kẻ Sồi.

Tôi ngồi với ba câu đó chừng mười lăm phút, thử tìm một cách xếp chúng lại sao cho ra một kết quả khác. Không có cách nào. Hoặc cái hình ấy không phải là sẹo, tức là tôi đang bịa ra nó, tức là ba tháng vừa rồi tôi đã hỏng ở một chỗ nào đó mà tôi không tự soi được. Hoặc nó là sẹo thật, và như thế thì đã có một cái gì đó rời khỏi thung Nác trước tôi rất lâu, và nó đã tìm được tới tận chỗ tôi.

Tôi tắt đèn lúc một giờ. Tôi không ngủ được mấy, nhưng cũng không nằm nghĩ, tôi nằm đếm lại số cột mình còn chưa chép, vì đếm thì dễ hơn.

Bốn rưỡi sáng bà Rớt dậy nhóm bếp. Tôi nghe tiếng cời tro, tiếng nắp vung, rồi tiếng bà đọc cái danh sách của bà, đều đều, không to hơn tiếng lửa. Tôi dậy, ra hiên, thu dọn chỗ sổ sách đang bày bừa từ tối qua.

Bà Rớt đi ngang, tay bưng cái rá gạo đã vo, nhìn cái đống trên bàn.

"Cô thức cả đêm."

"Dạ, cháu đối chiếu ít thứ."

Bà đứng lại một giây, không tỏ vẻ gì.

"Ghi rồi cô có gọi nó dậy được không?"

Bà không đợi tôi đáp, đi xuống bếp, đổ gạo vào nồi. Tôi đứng ở hiên với bốn cuốn sổ ôm trước ngực, nghe tiếng nước chảy vào nồi gạo, và không tìm được câu nào để nói với theo.

Bảy giờ tôi sang nhà ông Lịnh.

Ông đang ngồi ở bậu cửa bếp, cạnh một cái rổ tro, rắc tro lên luống hành trồng dọc chân tường. Cuối tháng mười một, đất khô cứng, hơi thở ra thành khói mỏng.

"Cô đi sớm thế này thì hoặc là nhà cháy, hoặc là cô lại nghĩ ra chuyện gì." Ông không ngẩng lên. "Nhà có cháy không?"

"Không ạ."

"Thế thì vào uống chè đã. Nghĩ ra chuyện gì thì nghĩ, chè nguội mất."

Ông vào bếp, chế nước, rót ra hai cái chén hạt mít. Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu quen thuộc, hai tay ôm chén cho ấm, và hỏi câu tôi đã sắp sẵn từ lúc đi trên đường.

"Bác ơi, một chữ tiếng trong có ra khỏi thung được không ạ?"

Ông Lịnh đặt cái ấm xuống. Ông không đùa câu nào, và tôi biết là mình hỏi trúng, vì trong ba tháng ở đây tôi chưa lần nào thấy ông bỏ qua một cơ hội đùa.

"Ra được." Ông nói.

"Bác biết chắc ạ?"

"Nghề tôi bắt phải biết." Ông ngồi xuống đối diện, hai tay đặt lên đầu gối. "Bỏ một chữ thì phải chắc là nó chết hẳn. Bố tôi bắt tôi đi hỏi vòng làng đủ ba lượt, hỏi từng nhà, xem còn ai nói không. Đủ ba lượt mới được làm. Tôi làm đúng như thế mấy chục năm."

"Rồi ạ?"

"Rồi có một lần tôi hỏi thiếu một chỗ." Ông uống một ngụm. "Cái chợ."

Ông kể tiếp, giọng bình thường, như kể chuyện đi lấy giống lúa. Năm chín ba, ông bỏ một chữ, chữ ấy gọi một cách chữa cho trẻ con mà chữa xong thì đứa bé không khóc được nữa. Bố ông duyệt, làng đồng ý, mồi thì có sẵn. Xong. Mười mấy năm sau, ông xuống chợ Hồi Xuân mua lưỡi cày, đứng đợi người ta gói hàng, thì nghe một bà bán chè xanh ngồi cạnh nói đúng cái âm ấy với người khách của bà.

"Đúng cái âm à bác?"

"Đúng cái âm. Dùng đúng chỗ luôn." Ông nói. "Tôi đứng đó, tay cầm cái lưỡi cày, không nhấc chân lên được."

"Bác có hỏi bà ấy học ở đâu không ạ?"

"Có chứ. Tôi hỏi ngay. Bà ấy bảo không học ở đâu cả, bảo nhà bà ấy vẫn gọi thế xưa nay." Ông đặt chén xuống. "Bà ấy chưa lên thung Nác bao giờ. Tôi hỏi kỹ, hỏi cả họ hàng, hỏi cả chỗ bà ấy lấy chồng. Không dính vào đâu cả."

Tôi ngồi im một lúc.

"Nó đi bằng đường nào ạ?"

"Tôi không biết." Ông nói, và ông nói câu đó rất nhanh, không ngượng, kiểu người biết rõ chỗ nào mình không biết. "Bố tôi bảo nó không đi. Nó chỉ tìm chỗ nào có miệng."

"Ngoài kia một cái miệng có đủ không bác?"

"Không ăn thua." Ông lắc đầu. "Ngoài kia loãng lắm. Phải nhiều người cùng tin một lúc thì mới ăn." Ông ngừng một nhịp. "Hoặc là một người tin quá tay."

"Quá tay là thế nào ạ?"

"Là tin tới mức không còn chừa chỗ nào để nghĩ khác." Ông nhìn cái luống hành ngoài kia. "Cái đó tôi chỉ nghe bố tôi nói lại thôi. Tôi chưa gặp bao giờ."

Tôi để chén chè xuống, hai tay đặt lên đùi, và hỏi nốt câu cuối.

"Hồi Miên còn bé, bác có nói với nó một câu, rằng chữ nó cũng biết đi, không phải lúc nào cũng đứng yên trong làng. Miên kể lại với cháu hồi tháng chín. Nó bảo đó là bác doạ trẻ con."

Ông Lịnh cười, nhưng chỉ cười bằng một bên miệng.

"Con bé khóc thét lên, tôi phải dỗ mãi. Sau tôi bảo nó là tôi đùa." Ông nói. "Nó bảy tuổi. Bảo thật thì nó làm gì được."

"Vậy câu đó bác nói thật ạ?"

"Thật."

Ông nói một tiếng thôi, không thêm gì, không cười theo, và ông nhìn thẳng vào tôi trong lúc nói. Tôi ngồi đó và nghe cái chữ ấy rơi xuống nền bếp đất, và nghe rõ là nó không nảy lên.

Ông rót thêm chè vào chén tôi dù tôi chưa uống hết.

"Cô hỏi cái này làm gì?"

"Cháu đối chiếu sổ ạ. Có mấy chỗ không khớp."

Ông nhìn tôi thêm một lúc. Tôi biết ông thừa sức hỏi thêm ba câu nữa là ra, và tôi biết ông chọn không hỏi, cũng như ông đã chọn không mắng tôi hồi tháng mười.

"Ừ. Cô về ăn cơm đi, để nguội hết." Ông nói, rồi đứng dậy, bê cái rổ tro ra sân, rắc nốt luống còn lại.

Tôi đi bộ về theo đường bê tông. Trời hửng, sương trên mặt đường bốc thành một lớp ẩm mỏng, xe máy ai đó chạy qua để lại hai vệt bánh sẫm rồi mờ dần phía sau.

Vừa đi tôi vừa nhắc lại trong đầu mấy câu ông vừa nói, theo thói quen của người phải nhớ để tối về chép lại. Nó chỉ tìm chỗ nào có miệng. Một người tin quá tay. Tôi nhắc tới lần thứ ba thì thấy hàm mình đang cử động.

Không phải cử động theo mấy chữ tôi đang nhắc. Môi dưới tôi hơi trề ra, lưỡi lùi về sau, cuống họng khép lại một nửa, tất cả đã vào đúng vị trí cho một cái âm mà không ai ở thung Nác dạy tôi, và không có trong sáu trăm mười hai mục của tôi, và tôi thì đang đứng giữa đường bê tông ở giữa hai dãy núi đá vôi, cách Hà Nội hai trăm cây số.

Tôi đứng lại. Tôi đưa tay lên miệng lần thứ hai trong hai ngày, và lần này không phải để bịt.

Hết Chương 61
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 62 →
← TrướcTiếp →