Sáng chủ nhật tôi sang điểm trường mượn thầy Dền một cái bảng con và nửa hộp phấn.

Ông đưa cho tôi cả hộp, không hỏi tôi mượn làm gì, chỉ dặn nếu cần thêm thì cứ sang lấy, phấn của trường năm nay dư vì bọn trẻ giờ viết vở nhiều hơn viết bảng. Tôi cảm ơn, cầm cái bảng gỗ viền nhựa xanh kẹp dưới nách, đi bộ về nhà bà Rớt.

Bà Rớt đi ăn giỗ họ dưới xóm Trại từ sớm, dặn cơm để phần trong lồng bàn. Cả nhà chỉ còn tôi. Tôi kê cái bàn nhựa thấp ra hiên, bày lên đó bốn cuốn sổ tay xếp theo thứ tự ngày, cái máy ghi âm, máy ảnh, điện thoại, cái bảng con, hộp phấn, và một cốc nước.

Rồi tôi mở cuốn sổ đang dùng dở tới trang có bốn mươi mấy vạch phấn chì, đặt nó nằm giữa bàn, và bắt đầu.

Tôi kẻ ba cột trên trang bên cạnh. Cột một, những cái tôi có chữ để gọi. Cột hai, những cái chỉ có hình. Cột ba, những cái tôi biết là có mà không nắm được gì cả, chỉ biết vì đêm đó tay tôi có gạch một vạch.

Cột một, tôi điền được chín dòng trong buổi sáng, và trong chín dòng ấy có bốn dòng tôi chép lại từ chính sổ của mình chứ không phải từ đầu mình. Tôi mở lại các cuốn cũ, dò từng trang, tìm những mục tôi đã ghi trong ba tháng qua mà bây giờ đọc lên không khớp với bất cứ thứ gì.

Có nhiều hơn tôi tưởng.

Trang bốn mươi mốt cuốn số hai, tôi phiên âm một từ bà Thìn nói hôm giữa tháng mười, kèm lời giảng chính tôi viết: dùng để giữ cho hai thứ khỏi rời nhau khi trời ẩm. Tôi đọc câu đó bốn lần. Tôi biết từng chữ trong câu ấy nghĩa là gì. Ghép lại thì tôi không hình dung nổi cái vật đang được nói tới, không biết nó to bằng gì, làm bằng gì, giữ hai thứ nào khỏi rời nhau, và cái người viết câu ấy ba tuần trước rõ ràng đã biết, vì cô ta không thấy cần ghi thêm gì cho rõ hơn.

Tôi bật máy ghi âm, dò tới đúng file hôm đó. Có tiếng bà Thìn nói từ ấy, hai lần, giọng bình thường, và tiếng chính tôi lặp lại theo để kiểm tra phát âm. Tôi nghe đi nghe lại đoạn mười giây ấy sáu lượt. Cái âm thì rõ. Sau cái âm không có gì cả.

Tới lượt thứ bảy, tôi thấy môi mình đang há ra, lưỡi đã đặt sẵn vào đúng vị trí để bật cái phụ âm đầu ấy ra thành tiếng, theo đúng thói quen mười năm làm nghề của tôi.

Tôi đưa tay lên bịt miệng mình lại. Bịt thật, bằng cả bàn tay, như bịt miệng một người khác.

Tôi ngồi như thế một lúc, tay còn để nguyên trên mặt, nghe tiếng gà bới đất ngoài sân, cho tới khi chắc chắn là mình không định thử nữa thì mới bỏ tay xuống, tắt máy ghi âm, và đẩy nó ra xa tầm với.

Cột hai khó hơn.

Tôi lấy phấn, vẽ lên bảng con hình cái thứ có quai và có miệng loe, cái tôi cảm được đêm hôm ấy lúc bà Rớt đứng trước chạn bát. Vẽ xong tôi nhìn: một cái hình méo, giống cái gáo, giống cái ca, giống mười thứ khác. Tôi xoá đi, vẽ lại, thêm cái động tác hất cổ tay bằng một mũi tên cong. Vẫn không thành cái gì. Tôi xoá.

Tôi vẽ cái vật dài hai gang tay có phần cầm tròn nhẵn. Tôi vẽ khoảng sân có nền dốc về một phía. Cái sân thì vẽ được, vì nền dốc là một đường thẳng, mà một đường thẳng thì ai vẽ cũng đúng. Nhưng tôi không biết vì sao nó dốc, và cái lý do ấy mới là chỗ tôi mất.

Đến trưa, bảng con đã bị xoá tới bảy tám lượt, mặt gỗ phủ một lớp bụi phấn trắng mịn, tay áo tôi cũng trắng tới khuỷu.

Tôi mở máy ảnh, lật lại loạt ảnh chụp bếp nhà bà Rớt hồi tháng chín, hồi tôi còn chụp mọi thứ chỉ vì mọi thứ đều mới với tôi. Có ba tấm chụp góc bếp, thấy cái xà ngang. Tôi phóng to hết cỡ. Ảnh chụp buổi tối, thiếu sáng, phần xà ngang chìm trong bóng, phóng lên chỉ còn là một dải hạt nhiễu đen sạm. Tôi lật đi lật lại ba tấm ấy, nghiêng màn hình cho đỡ loá, và không kết luận được gì. Có thể có gì đó treo ở đấy. Có thể không có gì. Người duy nhất còn giữ được cái hình của nó là tôi, và cái hình ấy không đưa ra được cho ai xem, kể cả cho tôi.

Đầu giờ chiều tôi mở cuốn sổ số một, trang đầu tiên.

1/9/2026. Kế hoạch điền dã thung Nác, 3 tháng. Dưới đó là bảng tôi tự kẻ hồi còn ngồi ở Hà Nội: mục tiêu 800 mục từ, 41 người, chia ba đợt phỏng vấn, mỗi tuần một báo cáo gửi cô Sính. Chữ tôi hồi ấy nắn nót hơn bây giờ nhiều.

Tôi đếm lại số mục mình đã ghi được tính tới hôm nay. Sáu trăm mười hai. Tôi viết con số đó xuống dưới cùng trang, ngay cạnh con số 800 tôi đặt ra ba tháng trước, và thấy nó không tệ chút nào. Trong một hồ sơ luận án, sáu trăm mười hai mục trong ba tháng là một con số đẹp.

Rồi tôi viết thêm một con số nữa xuống dưới. Bốn mươi bốn.

Cái bảng kế hoạch tôi kẻ hồi tháng tám có cột mục tiêu, cột tiến độ, cột ghi chú, cột người cung cấp. Nó không có cột nào để điền con số thứ hai kia. Không phải vì tôi quên. Vì hồi đó tôi không biết là có một cái đại lượng như thế tồn tại trên đời.

Tôi lật tiếp. Cuốn số một, trang mười một: hình vẽ cái thang gác bếp nhà cụ Trạc, mười một bậc, gỗ xoan, bậc thứ tư nứt, có nẹp tôn. Đó là cái hình đầu tiên tôi mang, hình duy nhất tôi nhớ đủ chi tiết để vẽ lại được, và tôi vẫn vẽ lại được cho tới bây giờ. Trang bốn mươi bảy: blẹng, bánh làm ngày giỗ, gói lá, hấp. Chữ tôi, mực tôi, ngày tôi ghi rõ ràng. Đọc lên trong đầu không có mùi gì, không có vị gì, không thấy cái bánh nào cả. Tôi nhớ rất rõ cái đêm trong sân đình, nhớ ánh đèn pin quét lên mặt người, nhớ cánh tay mình giơ lên. Tôi giơ tay bỏ phiếu cho một cái tên mà bây giờ tôi không còn biết nó gọi cái gì.

Ngoài bờ khe, mấy bụi tre mất bóng từ tháng trước vẫn nằm đó, phẳng như dán lên nền trời. Tôi không ra đấy nữa. Tôi cũng không viết gì thêm về chúng.

Bốn giờ chiều bà Rớt về, mặt đỏ vì rượu giỗ, tay xách phần lộc gói lá chuối. Tôi nhớ ra một việc, đứng dậy đi theo bà xuống bếp.

"Bà ơi, chiều nay trời có khươm không ạ?"

Bà Rớt đặt gói lộc lên chạn, hít một hơi qua mũi, ngẫm một giây.

"Có." Bà nói. "Từ trưa đã có rồi. Tối nay mưa đấy, cô cất quần áo vào."

Tôi cảm ơn bà, ra hiên, mở sổ, kẻ lại một khối.

``` ▸ khươm — mục 12 thớ: đầy miệng: 4 (Hoài, bà Thìn, Miên, bà Rớt) nghĩa: mùi đá ướt trước khi mưa tới tiếng: lần cuối 29/11, còn 3 ngày ```

Ba tháng nay tôi trả món này đúng hạn, không sót lần nào. Đó là việc duy nhất trong toàn bộ chuyện này tôi làm được trọn vẹn, và nó chỉ liên quan tới đúng một chữ.

Trời tối dần. Tôi xoá bảng lần cuối, định thu dọn, rồi lại thôi. Tôi lấy phấn vẽ lại từng cái hình còn nằm trong đầu, mỗi cái một góc bảng, không cố vẽ đẹp nữa, chỉ vẽ lấy cái bờ của nó.

Vẽ tới cái thứ năm thì tay tôi dừng.

Có một cái hình nữa. Nó không ở trong bốn mươi bốn cái kia.

Tôi nhận ra nó không phải vì nó rõ, mà vì nó khác hẳn. Mấy cái mới, cái nào bờ cũng sắc, sắc tới mức tôi còn thấy được cả chỗ gãy góc. Cái này thì mòn. Các cạnh của nó tròn đi, nhẵn, kiểu một cục xà phòng dùng lâu, kiểu cái tay nắm cửa cả nhà cầm mấy chục năm. Nó nhỏ hơn hết thảy. Và nó nằm sâu hơn, ở một chỗ trong đầu tôi mà tôi phải với xuống mới chạm tới.

Tôi bỏ phấn, lôi cả bốn cuốn sổ ra dò lại từ trang đầu tới trang cuối, hai lượt, tìm bất cứ mục nào có thể khớp. Không có. Tôi mở lại danh sách bốn mươi bốn vạch, đối chiếu từng cái một. Không phải cái nào trong đó.

Tôi ngồi thẳng lên, lật về trang đầu cuốn số một, nhìn cái ngày tôi viết ở góc trên. Mồng một tháng chín, năm nay.

Cái hình kia cũ hơn chỗ đó.

Tôi biết điều ấy chắc chắn theo cái cách người ta biết vết sẹo trên đầu gối mình có trước vết sẹo trên mu bàn tay, không cần ai làm chứng, không cần tra lại giấy tờ nào. Nó đã nằm trong tôi từ trước khi tôi đặt chân tới thung Nác, từ trước khi tôi biết trên đời có một cái làng tên là Kẻ Sồi.

Ngoài sân, gió đổi hướng, mang theo cái mùi đá ướt bà Rớt vừa nói tới lúc chiều. Tôi ngồi yên trên hiên, hai bàn tay lạnh đi rất nhanh, không phải vì trời trở gió, và tôi đặt viên phấn xuống mặt bàn mà không xoá cái bảng.

Hết Chương 60
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 61 →
← TrướcTiếp →