Chín giờ sáng tôi tra cái chìa sắt nhỏ vào ổ khoá cổng nhà cụ Trạc, xoay hai vòng, rồi đẩy cánh cổng tre ra cho mấy người đang đứng đợi phía sau đi vào.

Đó là lần đầu tiên tôi dùng tới chùm chìa khoá cụ dúi vào tay tôi ở sân đình. Tôi chỉ dùng đúng một cái, cái nhỏ nhất, và tôi để ý thấy mình cầm chùm chìa sao cho cái chìa đồng nằm khuất trong lòng bàn tay, không cho nó chạm vào ổ khoá nào cả.

Bà chủ quán tạp hoá vào trước, tay xách một cái phích Rạng Đông mới tráng, theo sau là vợ chú Thức và hai đứa con gái lớn nhà ông Chuân. Miên tới sau cùng, xin nghỉ tiệm một buổi, mang theo một cái chổi lúa mới mua ngoài thị trấn vì nghe nói chổi trong nhà cụ mòn hết cán.

Sân nhà cụ Trạc sau bốn ngày vắng người trông rộng hơn hẳn. Lá mít rụng phủ một lớp mỏng khắp mặt sân, có chỗ đã bắt đầu mục vì mấy trận mưa đêm. Con chó nằm ở góc hiên, thấy người vào thì đứng dậy, không sủa, đi vòng quanh chân từng người một rồi lại nằm xuống đúng chỗ cũ.

Chúng tôi chia việc không cần ai phân công. Vợ chú Thức xuống bếp nhóm lửa, đun một nồi nước to. Hai đứa nhà ông Chuân lau bàn ghế, giặt cái chiếu cói trải giường cụ, phơi lên dây thép giăng ngang sân. Miên quét, tôi hót. Bà chủ quán lôi từ trong làn ra hai gói chè, một hộp bánh quy, một túi cam, xếp lên cái bàn thấp ngoài hiên như xếp hàng ra bán.

Ở góc hiên vẫn còn đống lạt tre cụ tước dở hôm tôi tới hỏi chuyện, con dao gác ngang trên đó, giờ đã phủ một lớp bụi dày hơn hẳn lần trước. Tôi định quét luôn cả chỗ ấy thì ông Chuân giơ tay cản.

"Để đó cho tôi." Ông nói.

Ông ngồi xuống bậc thềm, cầm con dao lên, lau lưỡi vào ống quần, rồi tước nốt chỗ lạt còn dở. Ông tước không đều tay bằng cụ Trạc, mấy sợi ra dày mỏng khác nhau, nhưng ông tước cho hết bó, buộc lại thành một nắm gọn, dựng vào chân cột, đúng chỗ cụ vẫn dựng.

Mười một giờ kém, có tiếng ô tô ngoài đường bê tông.

Người ta đổ ra cổng. Cái xe con của người quen dưới huyện, không phải xe cứu thương lần trước, đỗ sát mép đường vì ngõ vào hẹp. Cửa mở, cháu trai cụ xuống trước, đi vòng sang bên kia, hai tay đỡ cụ xuống xe.

Cụ Trạc gầy đi trông thấy chỉ trong bảy ngày. Áo bông vẫn cái áo hôm đi, giờ rộng ra ở vai. Cổ cụ quấn một lớp gạc trắng, bên ngoài choàng thêm cái khăn len màu nâu để che, nhưng khăn tuột xuống lúc cụ cúi người ra khỏi cửa xe và tôi kịp nhìn thấy mép băng dán phía trước cổ họng.

Cụ đi được, chậm, có người đỡ một bên. Đi qua cổng, cụ dừng lại, nhìn khoảng sân vừa quét, nhìn cái chiếu phơi trên dây, nhìn nắm lạt dựng ở chân cột. Rồi cụ gật đầu một cái với ông Chuân.

Cụ không nói gì. Không phải kiểu không muốn nói.

Người ta dìu cụ vào phản, kê thêm cái gối cho cụ ngồi tựa. Cháu trai cụ đặt một cái túi vải xuống chân phản, lấy ra một cuốn vở học sinh và một cây bút bi, để lên mặt phản, trong tầm tay cụ.

"Bác sĩ dặn ông cháu ba tuần không được cố nói ạ." Anh nói với cả nhà, giọng bình thường, như nói một điều dặn dò vặt. "Có gì ông cháu viết ra. Các bác chịu khó đọc chữ ông cháu hộ cháu, chữ ông cháu đẹp lắm, không xấu như chữ cháu đâu."

Có mấy tiếng cười. Không khí giãn ra được một chút.

Rồi người làng vào thăm, lần lượt, không ai bảo ai mà vẫn thành hàng. Ông Tuất vào trước, ngồi xuống mép phản, hỏi cụ ăn được chưa, viện có nóng không, bác sĩ có tử tế không. Cụ Trạc cầm bút, viết vào vở, chữ to, nét đậm, đúng là đẹp thật.

Ăn được cháo. Nằm cạnh giường có ông ở Cẩm Thuỷ, nói nhiều.

Ông Tuất đọc, cười phá lên, rồi đọc to lại cho mấy người đứng phía sau nghe. Từ đó thành lệ: cụ viết, người ngồi gần nhất đọc to lên, cả gian nhà nghe theo. Tôi đứng ở cửa bếp nhìn vào, tay còn cầm cái rế, và tôi ghi nhớ cảnh ấy kỹ hơn tôi muốn.

Gần trưa, vợ chú Thức bưng ra một nồi cơm với đĩa rau muống luộc, bảo ai đói thì ăn trước, không phải chờ. Mấy người ngồi bệt luôn ngoài hiên, bát đũa chuyền tay, ông Chuân chê cơm hơi nhão thì bị hai đứa con gái mắng luôn là "ông chỉ được cái hay chê", cả hiên cười ồ. Cụ Trạc, trong nhà, xoay cuốn vở lại một lần nữa.

Cho tôi xin bát, đói.

Người đọc được câu đó cười to nhất, và ai cũng giành phần được xới cơm cho cụ, cuối cùng phải để cháu trai cụ tự làm cho công bằng.

Người ta nói chuyện bình thường suốt cả buổi. Chuyện cái bể nước bên xóm Trên đã đổ xong nắp, tuần sau bơm thử. Chuyện giỗ nhà bà Hoạch hôm qua đông người, cỗ còn thừa cả một mâm. Chuyện giá luồng năm nay xuống, gánh ra tới đường lớn công không đủ tiền dầu. Không ai nhắc tới cái cổ họng cụ, không ai hỏi cắt hết chưa, không ai hỏi bao giờ nói lại được. Người ta hỏi thăm cái xung quanh cụ và để yên cái chính giữa.

Thầy Dền tới lúc gần trưa, mang một tờ giấy A4 bọn trẻ vẽ chung, mười một cái tên ký nguệch ngoạc ở dưới. Ông đưa cho cụ, đứng chờ cụ xem xong, rồi nói vài câu về chuyện lớp học, không nói gì thêm.

Bà Rớt tới sau cùng, gần một giờ chiều, lúc trong nhà đã vãn người. Bà xách một cái cặp lồng nhôm, đặt lên bàn thấp ngoài hiên, mở nắp ra cho khỏi hấp hơi.

"Cháo cá quả." Bà nói với cháu trai cụ, không nói với cụ. "Nấu nhừ rồi, không phải nấu lại. Ngày mai tôi nấu tiếp."

Rồi bà đứng ở hiên chừng một phút, nhìn vào trong, nơi cụ Trạc đang ngồi tựa gối trên phản. Cụ nhìn ra. Hai người nhìn nhau đúng như hôm ở sân này, không ai quay đi trước. Cụ đưa tay ra phía cuốn vở, ngập ngừng, rồi lại thôi, chỉ gật đầu một cái.

Bà Rớt gật lại, xách cái làn không, đi về.

Chiều muộn nhà mới vắng hẳn. Tôi ở lại rửa chỗ bát đĩa cả buổi, Miên phụ tráng. Lúc lau tay, Miên hất cằm về phía cái tủ gỗ kê trong gian trong.

"Chị vẫn giữ chìa hả?"

"Ừ."

"Thế giờ chị thành người canh tủ rồi đấy." Miên nói, cười, giọng đúng kiểu nói cho vui. "Kiểu như, chị mà làm mất là cả làng đến đòi chị đấy nhé."

Cô nói xong thì đi về, vừa đi vừa nhắn tin cho ai đó. Tôi đứng lại ở sân với cái chậu nước rửa bát đã nguội, nghĩ tới việc suốt cả buổi hôm nay không có một người nào trong làng hỏi tôi cầm chìa khoá làm gì, và cũng không có ai tỏ ra ngạc nhiên khi thấy tôi là người mở cổng lúc chín giờ sáng.

Trước khi về, tôi vào chào cụ.

Cháu trai cụ đang ở dưới bếp hâm cháo. Trong gian trong chỉ còn cụ, ngồi tựa gối, cuốn vở học sinh đặt trên đùi, cây bút bi cài vào gáy vở.

Tôi lấy chùm chìa khoá trong túi ba lô ra, đặt lên mặt phản, đẩy về phía cụ.

"Cháu trả cụ ạ. Cụ về rồi."

Cụ nhìn chùm chìa khoá. Rồi cụ đưa tay, hai ngón, đẩy nó trở lại phía tôi, nhẹ, không dứt khoát được như cái hôm ở sân đình vì tay đã yếu hơn nhiều.

Tôi định nói thêm gì đó. Cụ lắc đầu, kéo cuốn vở lên, cầm bút, viết một dòng, xoay vở lại cho tôi đọc.

Cô cầm. Tôi còn phải nằm lâu.

Tôi cầm chùm chìa khoá lên, cất vào túi trong cùng, kéo khoá, làm cả ba việc ấy chậm hơn cần thiết vì tôi không biết nên nói gì tiếp.

Cụ nhìn tôi làm. Rồi cụ đặt bút xuống, không viết nữa, và ra hiệu bằng bàn tay, ngoắc hai ngón, ý bảo tôi lại gần hơn.

Tôi ngồi xuống mép phản.

Cụ hít vào một hơi, chậm, chuẩn bị. Cái âm phát ra không còn là giọng cụ. Nó mỏng, khô, phải ghé sát mới nghe được, và nghe rõ cả tiếng hơi thoát ra ở chỗ cổ họng bị băng.

"Cô nghe thấy tôi không."

Tôi ngồi im mất một nhịp, không phải vì không nghe rõ.

"Cháu nghe ạ." Tôi nói. "Cháu nghe rõ."

Cụ gật một cái, ngắn, rồi nhắm mắt lại, tay buông xuống mặt phản cạnh cuốn vở. Ngoài sân, cái chiếu cói phơi từ sáng đã khô, gió chiều thổi qua làm nó đập vào dây thép mấy tiếng khô khốc. Tôi ngồi nguyên chỗ đó cho tới khi nghe tiếng thở của cụ đều lại, rồi mới đứng dậy, đi ra, khép cửa gian trong đúng một nửa như tôi vẫn thấy cụ để mỗi tối.

Hết Chương 59
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 60 →
← TrướcTiếp →