Tiếng ho vọng ra tới tận hàng rào cúc tần trước khi tôi kịp mở cổng.

Không phải một tiếng ho bình thường, kiểu người ta hắng giọng cho thông cổ. Đó là một chuỗi dài, đứt quãng, mỗi lần dừng lại chỉ để lấy hơi rồi ho tiếp, kéo dài đủ lâu để tôi đứng nguyên ngoài cổng, tay vẫn còn đặt trên chốt tre, không dám đẩy vào ngay. Con chó nhà cụ Trạc chạy ra sủa vài tiếng rồi thôi, quay đầu lại nhìn vào trong nhà, đuôi cụp xuống, có vẻ cũng đang nghe ngóng như tôi.

Tôi đợi tiếng ho ngớt hẳn mới đẩy cổng bước vào. Sân vắng, không thấy cụ ngồi tước lạt như mọi bận, cái ghế mây cụ hay ngồi kê không ở góc hiên, trống trơn. Đống lạt tre cụ tước dở hôm tôi hỏi chuyện cuốn riêng vẫn nằm nguyên chỗ cũ, con dao gác ngang trên đó, một lớp bụi mỏng đã phủ lên từ bao giờ, như chưa ai động tới suốt mấy hôm. Bếp củi phía góc sân cũng không có khói, tro trong lòng bếp nguội lạnh, một cái nồi nhỏ úp ngược cạnh đó, khô ráo. Tôi đi vòng ra phía cửa gian trong, nơi có cái tủ gỗ, gọi khẽ.

"Cụ ơi, cháu Hoài đây ạ."

Một lúc sau cụ mới ra, tay vịn vào khung cửa, người hơi khom, khác hẳn dáng đứng thẳng tôi vẫn quen thấy. Cụ mặc cái áo bông cũ dù trời không lạnh lắm, cổ áo cài kín tới sát cằm. Tôi nhìn cụ một lượt, cố không để lộ ra mặt, nhưng trong bụng đã thấy rõ: má cụ hóp hơn tháng trước, gò xương hàm nhô lên rõ dưới lớp da, hai bàn tay vịn khung cửa gân guốc hơn hẳn cái lần cụ mở tủ cho tôi xem sổ chữ mùa thu.

"Cô tới hỏi cái gì nữa đây." Cụ nói, giọng khàn đặc, đứt ở giữa câu, phải dừng lại nuốt nước bọt rồi mới nói tiếp được nửa sau. "Ngồi đi. Đứng đó chắn nắng."

Tôi ngồi xuống bậc thềm, chỗ quen thuộc, để sổ tay xuống bên cạnh, chưa mở ra vội.

"Cháu định hỏi cụ thêm về cái cuốn riêng cụ kể hôm trước." Tôi nói. "Cụ có nhớ thêm được gì không ạ, dù chỉ một chi tiết nhỏ."

Cụ ngồi xuống cái ghế đẩu thấp cạnh cửa, chậm, một tay vẫn đỡ lên thành cửa cho tới khi ngồi hẳn xuống mới bỏ ra. Cụ chưa kịp trả lời thì lại ho, lần này ngắn hơn lần lúc nãy nhưng gấp hơn, ba bốn tiếng liền, cụ đưa tay áo lên che miệng, quay mặt đi chỗ khác.

Tôi ngồi im, không hỏi gì thêm, chờ. Khi cụ hạ tay áo xuống, tôi thấy một vệt ẩm nhỏ trên vải, không rõ màu vì áo đã cũ và sẫm sẵn, nhưng cụ vội kéo tay áo che lại, động tác nhanh hơn bất cứ động tác nào tôi từng thấy ở cụ. Qua khe cửa gian trong, tôi thoáng thấy trên cái bàn thấp cạnh tủ gỗ có mấy cái vỏ chai nhỏ xếp thành hàng, nhãn giấy còn nguyên, kiểu vỏ chai người ta hay đựng thuốc nước mua ở trạm xá xã. Tôi không hỏi, cụ cũng không nhắc, coi như chúng không nằm ở đó.

"Không nhớ thêm gì." Cụ nói, giọng đã đỡ đứt hơn một chút. "Đã bảo cô rồi, ông nội tôi chỉ nhắc một lần, tôi còn bé, không hỏi kỹ được."

"Cụ có sao không ạ?" Tôi hỏi, dù biết câu này thừa.

"Cảm thường thôi." Cụ khoát tay, một cử chỉ gạt đi quen thuộc. "Trở trời. Năm nào tháng này tôi cũng ho vài bữa, cô ở đây có ba tháng, chưa biết hết nếp làng tôi đâu."

Tôi không cãi lại, nhưng trong đầu tôi đang xếp hai hình ảnh cạnh nhau, như vẫn hay làm với mọi thứ: cụ Trạc hồi tháng chín, dáng ngồi thẳng, tay dao lướt đều trên thân tre, giọng tuy khàn nhưng chắc từng câu. Và cụ Trạc bây giờ, ngồi ghế đẩu thay vì bậc thềm cao hơn, một tay lúc nào cũng như chực tìm chỗ vịn, và cứ vài câu lại phải dừng để thở. Không ai trong nhà nói ra thành lời sự khác biệt đó, nhưng nó nằm sờ sờ giữa hai bức ảnh, và tôi không cần ai xác nhận mới thấy được.

Cụ đứng dậy, định đi vào trong lấy nước, nhưng đi được hai bước thì phải đứng lại, một tay chống lên vách, đầu hơi cúi, thở dốc mấy nhịp. Tôi vội đứng lên định đỡ, cụ xua tay, tự đi tiếp, chậm hơn.

Đúng lúc đó có tiếng chân ngoài cổng.

Tôi quay ra, thấy bà Rớt đang đẩy cổng tre bước vào, tay xách một cái làn nhựa, trong làn có mấy gói giấy báo gấp vuông vắn, loại người ta vẫn gói thuốc lá cho ở quầy thuốc bắc ngoài chợ huyện. Tôi đứng sững, không phải vì lạ mặt bà, mà vì chưa bao giờ, suốt ba tháng tôi ở thung, tôi thấy bà bước qua cái cổng này.

Bà không nhìn tôi trước, mắt bà nhìn thẳng vào cửa gian trong, nơi cụ Trạc vừa dừng bước, một tay vẫn còn chống vách, quay đầu lại nhìn ra sân.

Hai người đứng đó, một ở ngưỡng cửa, một giữa sân, cách nhau chừng năm bước chân.

Không ai nói gì trong khoảnh khắc đầu tiên. Con chó lại sủa nhẹ một tiếng rồi thôi hẳn, như cũng cảm thấy có gì đó không nên phá.

"Nghe con Miên nó bảo chú ho mấy hôm nay." Bà Rớt nói, giọng không có vẻ gì mềm mỏng đặc biệt, vẫn cái nhịp nói nhanh quen thuộc của bà, nhưng không có cái sắc lạnh tôi từng nghe bà dùng khi nhắc tới cụ những lần trước, những lần chỉ nhắc gián tiếp, không bao giờ nói thẳng tên.

"Cảm thường." Cụ Trạc đáp, đúng câu vừa nói với tôi, nhưng giọng khác hẳn, nhỏ hơn, không có cái vẻ gạt đi cương quyết lúc nãy.

"Cảm thường thì uống cái này." Bà Rớt bước tới, đặt cái làn xuống bậc thềm, mở một gói giấy báo ra, bên trong là mấy nhánh gừng tươi cắt lát, một nắm lá gì đó phơi khô màu nâu sẫm, mùi hăng nồng bốc lên ngay khi gói giấy hé mở. "Sắc uống, ngày ba lần, mỗi lần một chén nhỏ thôi. Không đỡ thì phải đi tỉnh, đừng có gàn."

Cụ Trạc nhìn xuống gói lá, không cầm ngay, chỉ nhìn.

"Bà còn nhớ cách sắc à." Cụ nói, không phải câu hỏi hẳn, cũng không phải câu khẳng định, đứng lơ lửng giữa hai thứ đó.

"Nhớ chứ." Bà Rớt đáp, gọn.

Cụ Trạc không nói gì thêm. Cụ cúi xuống, một tay vẫn chống vách, tay kia đưa ra, chạm vào mép gói giấy, không cầm hẳn lên, chỉ để ngón tay lướt qua lớp giấy báo cũ, như đang xác nhận nó có thật.

Tôi ngồi nguyên ở bậc thềm, không dám nhúc nhích, sợ chỉ một tiếng động nhỏ cũng đủ làm gãy cái gì đang xảy ra giữa hai người, cái gì đó tôi không có tên để gọi, không nằm trong hai trăm mục trống của sổ chữ, cũng không nằm trong bất cứ cuốn từ điển nào tôi từng tra.

Bà Rớt đứng thẳng người lại, nhìn cụ Trạc qua khung cửa. Cụ Trạc nhìn lại bà, không cúi mặt đi như mọi lần tôi từng thấy hai người tình cờ chạm mặt ở sân đình hay ngoài chợ, những lần đó bao giờ cũng có một người quay đi trước, nhanh, dứt khoát, như một phản xạ đã luyện thành thói quen suốt mấy chục năm.

Lần này không ai quay đi.

Hai người cứ đứng nhìn nhau như vậy, qua cái khung cửa gỗ đã lên nước bóng ở hai bên mép, rất lâu, đủ lâu để tôi đếm được ba lượt gió thổi qua tán mít làm mấy tàu lá va vào mái tôn. Không ai nói thêm một câu nào. Không ai bước lại gần hơn năm bước chân đang đứng.

Nhưng có gì đó trong dáng vai bà Rớt đã hạ xuống một chút, không còn cái thế cứng như lúc bước qua cổng. Và có gì đó trong ánh mắt cụ Trạc, thứ vẫn luôn giữ một khoảng cách phòng thủ mỗi khi nhắc tới bất cứ điều gì liên quan tới bà, giờ đã dịu lại, như một sợi dây đã căng suốt bốn mươi năm vừa được nới ra đúng một khấc nhỏ.

Tôi ngồi yên ở bậc thềm, hai tay đặt lên đầu gối, không dịch người, không lên tiếng, để nguyên cho cái khoảnh khắc đang đứng giữa hai người kia được đứng đó bao lâu tuỳ nó, không có tôi chen vào.

Hết Chương 56
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 57 →
← TrướcTiếp →