Cụ Trạc đang ngồi tước lạt tre ngoài hiên khi tôi tới, một bó lạt đã chẻ sẵn xếp cạnh chân, tay cụ vẫn đưa dao đều đặn dù giọng đã yếu đi thấy rõ so với hồi tháng trước. Cây mít trước sân đang rụng vài lá vàng xuống mái tôn thấp, thỉnh thoảng một tiếng "cạch" khô khan vang lên khi lá rơi trúng miếng tôn cong vênh. Tôi để xe dựa vào gốc cây, chào, ngồi xuống bậc thềm cách cụ một khoảng, không vội vào chuyện ngay, chờ cụ tước xong nắm lạt đang cầm dở. Mấy hôm nay cụ hay ngồi làm việc tay chân như thế này, bà Rớt bảo với tôi hôm trước, rằng cụ bận tay thì đỡ ho hơn, không biết có đúng không, nhưng tôi thấy cụ vẫn thỉnh thoảng dừng lại, hắng giọng một tiếng khẽ trước khi nói tiếp câu đang dở.
"Cô tới sớm thế, có việc gì." Cụ hỏi, không ngẩng lên, dao vẫn lướt đều trên thân tre.
"Cháu muốn hỏi cụ về mục 113." Tôi nói, rút cuốn sổ tay ra, mở tới trang đã đánh dấu từ trước. "Chữ mằn."
Tay cụ khựng lại đúng một nhịp dao, rồi tiếp tục tước, chậm hơn trước.
"Chữ đó tôi có âm, không có nghĩa." Cụ nói, giọng không đổi. "Ông nội tôi bắt tôi thuộc, không giảng. Chỉ nhớ ông bảo là chữ quý, có thế thôi. Sao cô hỏi chữ này?"
Tôi kể lại, ngắn gọn, chuyện Nam Sơn, bản đề xuất, cuộc gặp Nhượng sáng qua. Cụ nghe hết, không ngắt lời, chỉ có tay dao dừng hẳn lại từ giữa câu chuyện, đặt lên đùi.
"Cháu không muốn đoán liều." Tôi nói, khi kể xong. "Cháu sợ nếu cháu viết ra một cái nghĩa để họ vừa lòng, để làng còn giữ được cái bể nước, cháu sẽ đặt sai, giống như chú Cẩn đặt sai mói. Nhưng cháu cũng không biết cách nào để từ chối mà không làm mất lòng cả làng, không làm hỏng chuyện của chị Thoan, người thật sự đang làm tốt cho làng mình."
Cụ Trạc ngồi im một lúc, nhìn ra khoảng sân trước nhà, nơi vài con gà đang bới đất tìm giun dưới gốc mít.
"Cô hỏi tôi có cách nào biết chắc nghĩa thật của một chữ trống mà không phải đoán không." Cụ nói, không phải câu hỏi, như đang lặp lại đúng cái điều tôi vừa hỏi để tự mình cân nhắc. "Tôi chỉ biết cách chép, không biết cách giảng. Cô biết rồi đấy, tôi nói với cô rồi."
"Cháu biết ạ. Nhưng cháu nghĩ có khi cụ còn giữ một điều gì đó chưa từng nói tới, chỉ vì chưa ai hỏi đúng câu." Tôi nói, cố giữ giọng nhẹ nhàng, không muốn nghe như đang ép cụ.
Cụ Trạc cầm lại con dao, tước thêm vài sợi lạt, chậm, như đang dùng động tác tay để câu giờ cho một điều gì đó trong đầu kịp sắp xếp lại.
"Có một chuyện." Cụ nói, cuối cùng, giọng hạ thấp hơn. "Ông nội tôi có nhắc tới một lần, chỉ một lần, lúc tôi còn bé, chưa hiểu gì mấy nên không nhớ hết. Ông bảo, ngày xưa, ngoài cuốn sổ chữ tôi đang giữ đây, còn có một cuốn khác."
Tôi ngồi thẳng người lại, gập cuốn sổ tay lại, không dám cử động mạnh sợ làm đứt mạch chuyện cụ đang kể.
"Sổ chữ chỉ ghi tên." Cụ nói tiếp, tay vẫn không ngừng tước lạt dù chậm hẳn. "Cô biết rồi, hai trăm mục, có mục có tên mà không có giảng nghĩa, như cái mằn cô đang hỏi đây. Cuốn kia, ông nội tôi gọi nó là quyển riêng, không phải sổ chữ, một cuốn khác hẳn, ghi đầy đủ nghĩa cho tất cả các mục, kể cả những mục còn trống trong sổ chữ này."
"Cụ có thấy nó bao giờ không ạ?" Tôi hỏi, giọng khẽ hẳn.
"Chưa bao giờ." Cụ lắc đầu. "Đến ông nội tôi cũng chỉ nghe kể lại từ đời trước nữa, không phải tự tay ông thấy. Ông nói nó mất tích từ rất lâu rồi, trước cả đời ông. Có người bảo cháy trong một trận hoả hoạn ở đình cũ, có người bảo không phải cháy, có ai đó đã giấu nó đi từ trước khi cháy xảy ra, giấu kỹ tới mức không ai tìm lại được, kể cả người giấu, nếu người đó còn sống đủ lâu để hối hận."
"Nó có tên riêng không ạ? Người làng gọi nó là gì?" Tôi hỏi, cố nhớ lại xem có từng nghe ai nhắc tới một cái tên như vậy không, nhưng không lục ra được gì trong đầu.
"Ông chỉ gọi nó là quyển riêng, có lúc gọi khác đi một chút, tôi không nhớ rõ nữa, chỉ nhớ ông không bao giờ gọi nó là sổ chữ, phân biệt rất rõ hai thứ." Cụ Trạc đáp, tay tước thêm một sợi lạt, đưa lên ngắm rồi đặt xuống đống đã xong. "Tôi hỏi lại ông một lần, hồi còn nhỏ, rằng quyển đó trông ra sao, dày mỏng thế nào, chữ viết bằng gì. Ông không trả lời thẳng, chỉ bảo tôi còn bé, chưa cần biết, lớn lên tự khắc hiểu. Tôi lớn lên, ông mất, chuyện đó cũng theo ông mà đi luôn, không ai trong nhà nhắc lại nữa."
Tôi ngồi lặng, cố hình dung một cuốn sách, hay một tập giấy nào đó, mang trong nó lời giải cho toàn bộ hai trăm mục trống, cho mằn, cho cả những mục tôi còn chưa từng nghe tên, nằm đâu đó suốt hơn ba trăm năm, không ai chạm tới.
"Nếu tìm được nó, cháu sẽ biết chắc nghĩa thật của mằn, thay vì phải đoán." Tôi nói, nửa như hỏi cụ, nửa như tự nói với mình.
Cụ Trạc không đáp ngay câu đó. Cụ đặt con dao xuống hẳn, nắm lạt tước dở để nguyên trên đùi, quay sang nhìn tôi lần đầu tiên kể từ lúc bắt đầu kể chuyện, ánh mắt có gì đó tôi chưa từng thấy ở cụ trước đây, không hẳn là sợ, cũng không hẳn là buồn, giống như một sự dè chừng đã cũ, được giữ kín quá lâu tới mức chính cụ cũng không chắc nó còn đúng hay không.
"Cháu định đi tìm nó." Cụ nói, không phải câu hỏi.
"Cháu chưa biết bắt đầu từ đâu ạ." Tôi đáp thật. "Nhưng nếu có một cách để biết chắc thay vì đoán liều, cháu nghĩ cháu nên thử."
Cụ Trạc gật, chậm, rồi cúi xuống nhặt lại con dao, tiếp tục tước nốt nắm lạt dở, động tác đều trở lại như lúc tôi mới tới, coi như câu chuyện đã kết thúc ở đó. Tôi ngồi thêm một lúc, không hỏi thêm gì nữa, sợ hỏi nhiều quá sẽ khiến cụ đóng lại cánh cửa vừa hé ra. Con gà mái dẫn đàn con đi ngang sân, một con gà con tách đàn chạy lại gần chân cụ, bị cụ khẽ đuổi bằng mũi dao không có ý doạ, chỉ đủ để nó giật mình chạy về với mẹ. Cụ nhìn theo đàn gà, không nói gì thêm một lúc lâu, đủ lâu để tôi tưởng cụ đã quên hẳn câu chuyện vừa kể, cho tới khi cụ lên tiếng lại, giọng đổi hẳn sang chuyện khác, hỏi tôi tối nay có định ăn cơm ở nhà bà Rớt không hay lại bận việc ngoài công trường bể nước.
Tôi trả lời có, nắng trưa đã lên cao, chiếu thẳng xuống nóc nhà cụ Trạc, mấy tàu lá mít khô rơi lả tả theo từng cơn gió nhẹ. Tôi đứng dậy, phủi bụi trên quần, dắt xe ra tới gần gốc mít mới quay lại chào cụ lần cuối trước khi đi hẳn.
Lúc tôi đứng ở đó, một tay đã cầm ghi đông, cụ Trạc mới nói thêm một câu, không nhìn tôi, mắt vẫn dán vào sợi lạt đang tước dở trong tay, giọng nhẹ tới mức gần như lẫn vào tiếng dao cạo trên thân tre.
"Nếu còn, chắc không ai muốn tìm nó đâu."
Tôi đứng lại ở bậc thềm, chờ cụ nói thêm, giải thích vì sao, nhưng cụ không nói gì nữa, chỉ tiếp tục tước lạt, để tôi tự mang câu đó về, không một lời nào đi kèm để biết nên hiểu nó theo hướng nào.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 56 →