Tiếng máy trộn vữa kêu ù ù suốt từ sáng, một âm thanh mới toanh giữa thung, nghe lạc lõng bên cạnh tiếng gà, tiếng chó sủa vu vơ, tiếng dao thớt lách cách vọng ra từ mấy nhà gần đó. Tôi ra tới nơi thì công trường đã dựng xong khung ván cốp pha, ba người thợ cởi trần, lưng bóng mồ hôi, đang xúc cát đổ vào miệng máy trộn, một người khác đứng cầm ống nước xịt rửa lớp bụi xi măng bám trên bạt.

Cái hố móng đào sẵn từ hôm qua, vuông vắn, sâu ngang bụng, đất đỏ đùn thành đống hai bên. Vài đứa trẻ đứng vòng ngoài dây căng cảnh báo, không dám lại gần vì đã bị Thoan dặn hôm trước, chỉ đứng nhìn, thỉnh thoảng reo lên khi máy trộn quay tràn vữa ra ngoài miệng.

Tôi tìm một chỗ đứng khuất nắng dưới tán cây gạo gần đó, lấy sổ ra ghi vài dòng theo thói quen, dù biết cảnh này chẳng liên quan gì tới tiếng trong. Bà Rớt đi ngang, tay xách một ấm nước chè, dừng lại rót cho mấy người thợ, hỏi han vài câu về quê quán, có vợ con chưa, làm nghề này bao lâu rồi. Một người thợ trẻ, chắc chưa tới ba mươi, cười đáp làm hồ từ năm mười tám tuổi, đi khắp các tỉnh miền núi, quen với việc dựng cái gì đó nhanh gọn trong vài tuần rồi lại chuyển sang công trình khác.

"Chỗ này khác mấy chỗ trước em làm không?" Tôi hỏi, khi anh ta ngồi nghỉ tay cạnh gốc cây, uống ngụm nước chè bà Rớt vừa đưa.

"Đường vào khó hơn thôi chị." Anh đáp, quệt mồ hôi trán bằng cổ tay áo. "Xe tải lớn không vào được, phải sang xe nhỏ từ dốc Nghẹo, chở từng chuyến. Còn lại thì bể nước nào chả giống nhau, đổ móng, dựng thành, chờ khô, tráng lớp chống thấm, xong."

"Em làm cho công ty Nam Sơn lâu chưa?"

"Em không phải người của công ty đâu chị." Anh cười, lắc đầu. "Bọn em là đội thợ ngoài, chị Thoan thuê theo từng công trình, xong việc lấy tiền, đi chỗ khác. Chị ấy trả sòng phẳng, đúng hẹn, không bớt xén ngày công như mấy chủ thầu em từng gặp, nên anh em thích làm cho chỗ chị ấy giới thiệu."

Câu trả lời đơn giản tới mức tôi thấy hơi hẫng. Tôi đã lờ mờ hình dung công trường này như một cánh tay nối dài của một kế hoạch lớn hơn, mỗi viên gạch xếp xuống đều mang theo một ý đồ nào đó. Nhưng ngồi nghe anh thợ kể chuyện lương công, chuyện vợ anh ở nhà giữ hai đứa nhỏ, chuyện tháng sau có công trình khác ở một xã cách đây bốn mươi cây số đã hẹn sẵn, tôi chỉ thấy một người đang làm đúng công việc của mình, không hơn không kém, giống hệt cách những người thợ lợp mái từng làm cho bà Rớt sau khoản tiền của Nhượng.

Gần trưa, mấy người đàn bà trong xóm mang cơm ra công trường, không ai nhờ, tự bảo nhau chia phiên nấu thêm để mời tốp thợ một bữa. Một nồi cơm to, một rổ rau muống luộc, đĩa cá kho mặn, bày trên tấm bạt trải dưới bóng cây gạo. Mấy người thợ ngại ngần từ chối lúc đầu, bảo có mang cơm nắm theo rồi, nhưng bà Rớt gạt đi, nói ăn thêm bát cơm nóng có tốn kém gì, để dành sức chiều còn đổ tiếp mẻ vữa cuối. Bữa ăn diễn ra ngay cạnh cái hố móng còn ướt, tiếng cười nói lẫn với tiếng ruồi vo ve quanh đĩa cá, chẳng có gì trang trọng, chỉ là một bữa cơm giữa trưa của những người đang cùng làm chung một việc.

Tôi ngồi ăn cùng, nghe mấy người thợ kể chuyện công trường khác họ từng làm, có chỗ chủ nhà keo kiệt tới mức không cho tắm nhờ, có chỗ hào phóng mổ hẳn con gà tiễn khi xong việc. Không ai trong số họ nhắc một chữ nào tới cây thuốc, tới hợp đồng nghiên cứu, tới bất cứ điều gì ngoài công việc trước mắt của họ: đổ móng, dựng thành, tráng lớp chống thấm, nhận tiền công, đi tiếp. Tôi nhận ra mình đã tự dựng lên một hình dung về Nam Sơn lớn hơn thực tế rất nhiều, một thứ gì đó có chủ đích, có bàn tay sắp đặt từ trên xuống dưới, trong khi phần lớn những gì tôi đang thấy chỉ là những người bình thường làm những việc bình thường để có tiền nuôi con, y như bà Rớt bán một buổi kể chuyện để lợp lại mái nhà, y như chính tôi đang ghi chép ở đây để có một cái luận án.

Chiều muộn, phần móng đổ xong, mấy người thợ dọn dụng cụ, hẹn sáng mai quay lại dựng thành bể. Dân làng kéo tới xem đông hơn buổi sáng, có người mang cả ghế ra ngồi ngắm cái hố vữa xám đang khô dần dưới nắng chiều, bàn tán về việc từ nay không phải gánh nước khe Mọ qua con dốc trơn mùa mưa nữa. Một bà cụ đứng cạnh tôi, chỉ tay vào cái hố, nói với ai đó bên cạnh rằng đời bà chưa bao giờ nghĩ có ngày làng mình có nước máy như dưới xuôi.

Tôi đứng nhìn cảnh đó, cố tìm trong lòng mình một chút gì đó để bấu vào, một lý do để nghi ngờ, để giữ khoảng cách. Không tìm được. Nước sạch là nước sạch, trẻ con đỡ phải lội bùn xuống bến mùa mưa, người già đỡ phải gánh từng đôi thùng qua dốc đá trơn. Không có cách nào biến cái bể vuông vắn đang khô kia thành một thứ đáng ghét, dù tôi biết, hoặc đoán, rằng nó không phải là món quà không đi kèm gì cả.

Thoan tìm tôi lúc trời sắp tắt nắng, tay cầm một tập giấy kẹp trong bìa cứng, đi tới chỗ tôi đang đứng dưới gốc gạo.

"Công trường ồn quá, chị ngồi đây nói chuyện được không?" Chị hỏi, kéo một khúc gỗ vuông thợ xây bỏ lại làm ghế ngồi, phủi bụi qua loa rồi ngồi xuống, ra hiệu tôi ngồi cạnh.

Tôi ngồi xuống, đặt sổ tay lên đùi.

"Em nghe cụ Trạc kể chị đang làm một đề tài về tiếng nói ở đây, ghi lại cả những từ mà giờ ít người còn dùng." Thoan nói, lật vài trang trong tập giấy nhưng chưa đưa cho tôi xem. "Bên chị có một dự án riêng, không liên quan gì tới cái bể này, muốn mời chị hợp tác, nếu chị thấy phù hợp."

"Hợp tác kiểu gì ạ?" Tôi hỏi, tim đập nhanh hơn một nhịp dù cố giữ giọng bình thường.

"Có một loại cây trong vùng, người già hay nhắc tới nhưng giờ gần như không ai biết mặt nó ra sao, chỉ còn cái tên." Thoan nói, mắt vẫn nhìn thẳng, không né tránh. "Bên chị nghĩ nếu chị giúp tìm hiểu thêm, đối chiếu qua tư liệu ngôn ngữ chị đang có, biết đâu lần ra được manh mối gì đó cụ thể hơn. Chị đọc thử bản đề xuất này, không cần trả lời ngay, cứ về đọc kỹ rồi mình nói chuyện sau."

Chị đưa tập giấy cho tôi, đứng dậy, phủi quần, nhìn về phía công trường nơi mấy người thợ đang buộc bạt che móng bể qua đêm.

"Không phải chuyện gấp." Chị nói thêm, giọng vẫn nhẹ như mọi câu trước đó. "Chị cứ đọc, thấy được thì làm, không thấy được thì thôi, không sao cả."

Tôi cầm tập giấy trong tay, cảm giác nó nặng hơn hẳn số trang thật của nó, nhìn Thoan bước đi về phía công trường, dáng đi thẳng, chắc chắn, không có gì khác so với lúc chị bước vào sân đình buổi sáng hôm gặp tôi lần đầu.

Tôi ngồi lại thêm một lúc dưới gốc gạo, nhìn cái hố móng phủ bạt xanh dưới ánh chiều tắt dần, nghe tiếng mấy người thợ gọi nhau thu dọn xẻng cuốc. Tập giấy vẫn nằm nguyên trong tay, chưa mở, bìa cứng còn mát lạnh vì để trong túi máy lạnh xe bán tải cả buổi. Tôi chưa muốn mở nó ra ngay lúc này, giữa tiếng cười nói của người làng đang bàn nhau chuyện bao giờ nước chảy về tới đầu ngõ, giữa cái không khí ấm áp mà cả buổi chiều đã cố tình gieo vào tôi từng chút một. Tôi cất tập giấy vào đáy túi vải, kéo khoá lại, đứng dậy dắt xe về, để dành việc đọc cho một lúc khác, một mình, không có ai đứng cạnh chờ câu trả lời.

Hết Chương 52
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 53 →
← TrướcTiếp →