Tối hôm đó tôi ngồi một mình trong buồng, sạc điện thoại, lướt qua đống ảnh chụp mấy ngày cưới còn chưa kịp xem lại.
Điện thoại tôi đầy gần hết bộ nhớ, phải xoá bớt vài video quay thử hồi tháng trước mới đủ chỗ lưu ảnh mới. Tôi ngồi tựa lưng vào vách gỗ, chân duỗi thẳng trên chiếu, lướt từng tấm một, chậm rãi, không vội, một việc tôi hiếm khi cho phép mình làm kể từ ngày tới thung.
Ảnh đầu tiên là cái rạp bạt xanh đỏ lúc mới dựng được nửa, mấy thanh niên đứng trên ghế cao buộc dây, một cậu đang cười toe vì suýt ngã. Tấm tiếp là ông Lịnh, tay cầm đôi đũa cả, mặt đỏ gay, đang quát vào bếp chuyện nồi nước luộc lòng. Tấm sau nữa là Miên, tay cầm hộp kim chỉ, đang ghim áo cho tôi, lưỡi thè ra một bên vì tập trung. Tôi cười một mình khi thấy tấm đó, nhớ lại cả buổi chiều lục tủ áo.
Có mấy tấm chụp cô dâu chú rể lúc làm lễ gia tiên, cô dâu áo đỏ cúi đầu trước bàn thờ, chú rể đứng cạnh, tay hơi run. Có tấm chụp mâm xôi gấc đỏ au bà Rớt gắp cho tôi, chụp trước khi ăn, vì tôi có thói quen chụp món ăn lạ. Có tấm chụp bàn rượu buổi tối, ông Vượng, bà cụ tóc bạc, cụ Trạc ngồi im ở góc, ánh đèn vàng đổ xuống mặt bàn, một tấm ảnh tôi thấy đẹp hơn mình tưởng lúc chụp.
Có cả một tấm tôi nhờ Miên chụp giúp, hai đứa đứng cạnh nhau trước rạp, tôi mặc cái áo xanh ngọc mượn của mẹ cô, tóc buộc cao, cười hơi ngượng vì chưa quen đứng trước ống kính người khác cầm. Miên đứng cười toe, một tay giơ hai ngón hình chữ V, tay kia nắm chặt tay tôi như sợ tôi bỏ chạy trước khi máy kịp chụp. Tôi phóng to tấm đó, nhìn một lúc, rồi lưu riêng nó vào một thư mục khác, thứ tôi chưa từng làm với bất cứ tấm ảnh nào chụp ở thung từ ngày tới đây.
Tôi lướt qua thêm vài chục tấm nữa, có tấm mờ vì tay run lúc chen giữa đám đông, có tấm chụp trúng lưng ai đó đứng chắn ngang, có tấm chỉ toàn khói bếp và một góc chảo. Tôi không xoá tấm nào, dù biết phần lớn sẽ chẳng bao giờ mở lại xem lần thứ hai. Cứ để đó, tôi nghĩ, biết đâu sau này cần.
Tôi lướt tiếp, chậm hơn, tới đoạn ảnh chụp trên đường đi, lúc tôi và Miên đi từ nhà bà Rớt sang xóm Trại xem không khí chuẩn bị. Có vài tấm chụp cảnh đồng, mấy con trâu, một cây cầu tre bắc qua khe Mọ. Rồi tới một tấm tôi không nhớ đã chụp lúc nào, chắc là chụp vội, không ngắm kỹ, vì khung hình hơi lệch, một góc bị mờ.
Tấm ảnh chụp bụi tre bên khe.
Tôi ngồi thẳng người dậy, đưa điện thoại lại gần mắt hơn.
Bụi tre trong ảnh không còn cái dáng phẳng lì, mất chiều sâu như cái lần tôi đứng đó cùng cụ Trạc, ngày mà cả bụi tre trông như một tấm ảnh dán lên nền trời chứ không phải một khối cây có thật. Trong tấm này, dưới nắng chiều xiên, tôi thấy có bóng. Mờ, nhạt, chưa rõ hẳn như bóng tre bình thường, nhưng có bóng, đổ dài xuống đất theo đúng hướng ánh sáng, đúng cách một cái cây thật phải đổ bóng.
Tôi phóng to tấm ảnh, kéo hết cỡ, ngón tay hơi run. Mấy cái lá gần gốc, chỗ từng bạc trắng như ảnh cũ, giờ đã ngả lại màu xanh, không đậm như lá tre khoẻ mạnh, nhưng không còn cái màu bạc phếch chết chóc của mấy tuần trước.
Tôi lục lại thư mục ảnh cũ, tìm tấm chụp bụi tre hồi tháng trước, đặt hai tấm cạnh nhau trên màn hình để so. Sự khác biệt rõ tới mức tôi không cần nhìn kỹ cũng thấy: một bên là hình vẽ, một bên đang trở lại thành cây.
Tôi kéo lại danh sách ảnh, tìm thêm được hai tấm nữa vô tình chụp trúng góc bụi tre trong lúc lia máy quay cảnh chung, một tấm chụp cách đây mười ngày, một tấm chụp cách đây năm ngày. Xếp cả bốn tấm theo thứ tự thời gian, tôi thấy rõ một đường đi: từ phẳng lì không bóng, tới bóng bắt đầu hiện lờ mờ như vệt bút chì bị tẩy dở, tới bây giờ, bóng đã có hình, có hướng, có độ đậm nhạt đúng như một cái bóng thật phải có dưới nắng chiều. Không ai trong làng để ý tới bốn tấm ảnh này ngoài tôi, vì với họ, bụi tre vẫn chỉ là bụi tre, thứ họ đã quen đi vòng tránh mỗi tối mà không cần biết vì sao.
Tôi đặt điện thoại xuống chiếu, hai tay úp lên mặt một lúc, không khóc, chỉ thở ra một hơi dài, cái hơi thở đầu tiên trong nhiều tuần tôi cảm thấy nó đi hết được xuống tận đáy phổi, trọn vẹn, không phải dừng nửa chừng như mọi lần trước.
Từ đêm ông Lịnh bỏ tiếng cho nhợn, đổi bằng cái bánh giỗ không ai còn nhớ tên, tôi vẫn không dám tin hẳn là nó sẽ có tác dụng. Tôi đã tưởng tượng đủ kiểu kết cục xấu trong đầu suốt mười ngày sau đó: cái lệch không tan mà lan rộng hơn, hoặc tan nửa chừng rồi mắc kẹt lại thành một thứ dở dang còn kỳ quái hơn ban đầu. Tôi không dám ra thăm bụi tre thường xuyên, sợ nhìn thấy điều tồi tệ hơn những gì mình đã gây ra. Hoá ra suốt những ngày tôi bận rộn với thiệp cưới, với áo mượn, với mâm cỗ và tiếng loa rè, cái lệch đã âm thầm lành lại, không cần tôi đứng đó canh chừng từng giờ.
Đây là lần đầu tiên, kể từ cái đêm tôi đọc to hai chữ sai lầm ở bãi Trổ, tôi thấy nhẹ nhõm thật sự, không phải cái nhẹ tạm thời của việc trốn được vào đám đông vui vẻ trong vài giờ, mà một cái nhẹ nằm sâu hơn, như một cục gì đó đã đè trong ngực suốt hai mươi ngày vừa tự tháo bớt một vòng dây.
Tôi nghĩ tới bà Rớt, tay chỉ vào cái bánh không còn tên hôm ở chợ, câu bà nói lạnh tanh: "Cô thấy chưa." Lúc đó tôi chỉ thấy cái giá phải trả, một người mất một cái tên quen thuộc để đổi lấy việc sửa lỗi của tôi, và tôi mang cảm giác đó nặng nề suốt mấy tuần, không dám nghĩ xa hơn. Giờ ngồi đây, nhìn cái bóng đang trở lại dưới gốc tre, tôi mới thấy trọn vẹn cái vế còn lại của câu chuyện đó: cái giá ấy đã mua được một thứ thật, không phải mua một lời hứa suông. Tôi không biết nên gọi cảm giác này là gì, chỉ biết nó khác hẳn cảm giác tội lỗi tôi quen mang theo bấy lâu.
Tôi cũng nghĩ tới thầy Dền, tới cái điệu huýt sáo ông không nhớ lời, tới câu hát trẻ con lướt qua tai tôi hôm đám cưới mà tôi chưa kịp hỏi ai. Hai chuyện đó chẳng liên quan gì tới bụi tre, nhưng đêm nay chúng cứ tự xếp cạnh nhau trong đầu tôi, như hai mảnh giấy rơi tình cờ chung một ngăn kéo. Tôi gạt ý nghĩ đó sang một bên, tự nhủ mai kia rảnh sẽ nghĩ tiếp, giờ chỉ muốn ngồi yên với cái nhẹ nhõm hiếm hoi này thêm một lúc.
Tôi ngồi vậy một lúc lâu, nhìn tấm ảnh, nhìn cái bóng mờ mờ đang tập quay lại đúng chỗ của nó dưới gốc tre, nghĩ tới việc sáng mai sẽ ra tận nơi nhìn tận mắt, không qua ống kính điện thoại nữa. Tôi định tắt máy đi ngủ sớm, lần đầu tiên sau nhiều đêm không phải nằm tính lại xem còn bao nhiêu ngày tới hạn ba ngày một tiếng của một vật đặt nào đó.
Điện thoại rung lên trong tay tôi, một tin nhắn tới, số lạ, không lưu tên. Tôi mở ra, còn chưa hết cái cảm giác nhẹ nhõm vừa rồi.
"Chào chị, em là Thoan, bên Nam Sơn, nghe cụ Trạc giới thiệu..."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 51 →