Trong điện thoại tôi có bốn mươi hai tấm ảnh chụp gian bếp nhà cụ Trạc, chụp chiều ngày thứ hai, lúc gần bốn giờ.
Tôi xin chụp vì một lý do tầm thường. Mấy chuyến điền dã trước dạy tôi rằng hỏi khơi khơi "ở đây gọi cái này là gì" thì người ta ậm ừ, còn chỉ tay vào một vật cụ thể mà hỏi thì người ta đáp ngay, và đáp bằng cái từ họ dùng thật chứ không phải cái từ họ đoán là mình muốn nghe. Nhưng chỉ tay thì phải đứng ngay đó. Cho nên tôi chụp trước, mang ảnh đi hỏi sau, hỏi được nhiều người trong một buổi, hỏi cả mấy ông đang ngồi hút thuốc lào ngoài sân đình.
Chiều hôm ấy tôi đứng ở cổng nói vọng vào. Cụ Trạc đang bó ngô ngoài hiên, hai đầu gối kẹp lấy bó, tay tước lá. Cụ hỏi chụp làm chi. Tôi nói cháu chụp đồ đạc thôi ạ, để về hỏi tên các thứ cho đúng. Cụ nói "Chụp thì chụp", và cụ không vào theo, cũng không dặn tôi đừng chụp cái gì.
Bếp là gian riêng, thấp, quay lưng ra sân, cửa vào phải cúi. Trong tối nên tôi phải bật đèn máy, tấm nào cũng trắng bệch một khoảng ở giữa. Kiềng ba chân, một nồi gang, chồng rế treo trên đinh, cái ống thổi bằng bương đầu cháy sém. Vách trát đất trộn rơm, ám khói đen bóng, sờ vào dính tay. Trên đầu, cách nền chừng hai mét rưỡi, là gác bếp: sàn ghép bằng bương đập giập, trên xếp ngô giống buộc túm, mấy bó củi nhỏ, một cái thúng úp. Tối hôm đó tôi ghi vào sổ từng thứ một, đánh số theo số thứ tự ảnh, để mai hỏi cho gọn.
Ngày thứ ba tôi ngồi chép băng gần hết buổi sáng, ăn cơm với bà Rớt, chiều đi bộ lên xóm Trên hỏi thăm mấy nhà, không hỏi được gì nhiều. Trước khi về tôi tạt qua nhà cụ Trạc xin hẹn tối nay, cụ ừ một tiếng.
Bảy giờ tôi sang. Nước khe rút bớt, cầu tre khô hơn hôm trước. Tôi cầm đèn pin, đi tắt qua sân đình, tới nơi thì thấy cửa bếp mở, ánh lửa hắt ra một vệt vàng trên nền gạch.
Trong bếp có hai người. Cụ Trạc ngồi trên cái ghế thấp, cời than. Một người đàn ông chừng bốn mươi ngồi xổm cạnh cửa, đang lấy tuốc nơ vít vặn lại cái cán quạt cây, quạt tháo rời, cánh dựng vào chân vách. Anh ta nhìn tôi, cười trước.
"Cô nghiên cứu chớ chi. Tôi là Dụ, cháu ông chú đây. Cô ngồi cái ghế kia, ghế ni tôi để đồ."
Tôi ngồi xuống, lấy sổ ra kê lên đầu gối. Ấm nước đặt trên kiềng bắt đầu kêu. Tôi định bắt đầu bằng mấy cái đơn giản nhất, cái rế, cái ống thổi, rồi mới lên gác bếp, vì gác bếp là chỗ tôi đoán sẽ có nhiều từ lạ nhất.
Tôi ngẩng lên tìm cái thang để chỉ tay vào.
Nó không có ở đó.
Tôi để yên tay giơ lên như thế mất mấy giây. Chỗ nó dựa là quãng vách bên phải cửa, dưới đúng cái ô trống người ta chừa để chui lên gác. Bây giờ quãng vách ấy là vách, đen bóng, liền một mảng, có một cái đinh đóng chệch treo bó lá khô.
"Cái thang cụ cất đi đâu ạ?" tôi hỏi. Tôi hỏi bình thường, giọng bình thường, vì lúc ấy trong đầu tôi chuyện này còn là chuyện người ta dọn dẹp.
Cụ Trạc cời thêm một cái. "Thang chi?"
"Dạ cái thang lên gác bếp ạ."
Anh Dụ đặt cái tuốc nơ vít xuống. "Lên gác thì bắc cái ghế, cô. Hoặc đứng lên cái cối kia. Ông chú không lên nữa mô, có chi tôi lên lấy cho."
Tôi đứng dậy, lại gần vách. Tôi soi đèn pin xuống nền. Nền đất nện, phẳng, cứng, quét sạch, không có hai vệt lõm nào ở chỗ chân thang vẫn tì xuống. Tôi soi lên vách, kéo đèn dọc từ dưới lên tới mép sàn gác. Không có vệt cọ, không có chỗ đất tróc, không có hai chấm sáng hơn ở quãng mà một cái thang dựa lâu năm thì phải làm mòn lớp khói.
Tôi lấy điện thoại ra. Tay tôi đưa vào túi quần hai lần mới lấy được, cái quần bó, và tôi nghe thấy hơi thở mình đang ra bằng miệng.
Bốn mươi hai tấm. Tôi vuốt ngược, tấm hai mươi mốt, tấm hai mươi hai, tấm hai mươi ba. Tấm hai mươi ba chụp chính diện cái vách bên phải cửa.
Trong ảnh có một cái thang gỗ dựa vào vách, đầu thang gác lên mép sàn gác bếp, chân thang choãi ra, buộc một vòng dây thép ở nấc dưới cùng.
Tôi phóng to. Ảnh vỡ hạt nhưng vẫn đếm được. Mười một bậc.
"Anh xem giúp em cái này với." Giọng tôi ra không đúng như tôi định. Tôi chìa máy sang.
Anh Dụ cầm lấy, nghiêng màn hình cho khỏi loá lửa, nhìn một lúc lâu hơn tôi tưởng. Rồi anh cười.
"Đúng tôi rồi. Chiều qua tôi có sang thật, sang bơm nước. Cô chụp lúc tôi đang với cái bắp ngô ở trên, ngô giống ông chú treo cao quá, tôi phải kiễng." Anh trả máy. "Ảnh cô chụp tối om, mà cũng được, thấy rõ cái mặt tôi."
Tôi cầm máy, nhìn lại. Trong ảnh anh Dụ đứng nghiêng, chân trái bước lên bậc thứ ba, một tay bám tay vịn, tay kia với lên chỗ bó ngô. Tay anh đặt lên cái tay vịn bên phải, chỗ gỗ mòn thành một khoảng lõm sẫm hơn xung quanh.
"Anh nhìn kỹ giúp em một tí," tôi nói. "Chân anh đang đặt lên cái gì ạ?"
Anh Dụ ghé lại, chống hai tay lên đầu gối, xem thêm một lần nữa, nghiêm túc, kiểu người đang giúp thật.
"Chân tôi kiễng đó. Kiễng lên thì nó cong rứa."
"Nhưng anh cao hơn nền nhà đến gần nửa mét."
"Rứa à." Anh nhìn thêm, rồi ngẩng lên nhìn tôi, vẫn không có gì trong mặt anh ngoài sự sẵn lòng. "Cô cho tôi coi lại đi. Ừ, chắc tôi đứng lên cái thúng, thúng ni đây nì."
Anh chỉ cái thúng úp ở góc. Cái thúng cao chừng hai gang.
Tôi ngồi xuống ghế. Tôi nói to hơn cần thiết, và tôi nghe được là mình đang nói to.
"Chiều qua cháu đứng đúng chỗ này, cháu chụp bốn mươi hai kiểu. Trong ảnh có một cái thang gỗ dựa vào chỗ kia. Mười một bậc. Bây giờ nó không còn ở đấy nữa, mà cũng không có dấu gì là nó từng ở đấy."
Tôi chỉ thẳng vào quãng vách. Ngón tay tôi run, nên tôi hạ xuống, kẹp vào giữa hai đầu gối.
Trong đầu tôi lúc ấy có một cái thang.
Không phải tôi nhớ ra nó. Tôi không nhớ mình đã trèo lên đó bao giờ, không nhớ ai đóng nó, không nhớ nó đứng đó từ năm nào, không nhớ hôm qua mắt mình có nhìn vào nó hay không. Không có một cảnh nào đi kèm. Chỉ có cái hình: mười một bậc, gỗ xoan lâu năm ngả nâu đỏ, bậc thứ tư nứt dọc một đường và người ta đã nẹp lại bằng miếng tôn cắt, tay vịn bên phải mòn lõm ở quãng ngang thắt lưng, chân thang buộc dây thép hai vòng. Cái hình ấy nằm trong đầu tôi rành rọt hơn mọi thứ tôi đã ghi được từ hôm vào thung, và nó không kèm theo bất cứ cái gì khác. Nó chỉ đứng đó, và nó biết nó từng có thật.
Tôi cố nghĩ ra cách giải thích. Đèn máy đánh thẳng làm bóng đổ lạ, và bóng đổ lạ thì mắt người đọc sai thành vật thể. Góc chụp bóp méo tỉ lệ. Cái tôi tưởng là thang có thể là một chồng bương dựng tạm. Tôi lần lượt thử từng cách, và từng cách rụng xuống, vì trong ảnh có mười một bậc cách đều nhau, và bóng thì không có bậc.
Anh Dụ rót nước từ cái ấm vào phích, đậy nút, vặn.
"Cô đi đường xa, ăn uống lại thất thường," anh nói, giọng dịu hẳn xuống, giọng người ta nói với một người vừa bị choáng nắng. "Người lạ nước lạ cái là hay mệt. Cô cần lên gác thì mai tôi bắc cho cái thang, tre ngoài kia thiếu chi. Bắc cái thang thì mấy hồi."
Tôi mở miệng, rồi ngậm lại. Tôi nghe được câu tôi sắp nói sẽ nghe ra làm sao. Tôi cúi xuống gấp cuốn sổ vào, không viết được chữ nào.
Cụ Trạc đứng dậy. Cụ đi hai bước tới trước quãng vách tôi vừa chỉ, đứng đó, tay buông xuôi. Cụ nhìn thẳng vào chỗ ấy, nhìn lâu, không sờ, không hỏi tôi câu nào, không quay sang phía tôi. Ánh lửa hắt lên một bên má cụ, chỗ râu cạo dở.
Rồi cụ quay đi, nhấc cái ấm tích trên nắp chạn xuống, tráng một lượt, bỏ chè vào, rót nước sôi, đậy nắp, xoay cái quai về phía tôi.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 5 →