🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Tôi ra tới đầu ngõ lúc trời còn nhá nhem, tay cầm cốc nước vối nguội bà Rớt để phần từ tối qua. Gà xóm Bến gáy so le, nhà này dứt thì nhà kia mới bắt đầu. Đất dưới chân ẩm, có chỗ lún xuống một vệt bánh xe cút kít. Tôi đi chậm, vừa đi vừa ngó vào mấy cái sân đã có người dậy: một bà đang xúc cám vào máng, một ông ngồi xổm nhóm bếp, khói bốc lên thẳng đứng vì chưa có gió.

Tôi ra đây không vì việc gì cụ thể. Đêm qua tôi ngủ không sâu, cứ tỉnh giấc vì tiếng gì đó gõ vào mái tôn, sáng ra mới biết là quả khế rụng. Ra ngõ cho tỉnh hẳn, và cũng để nhìn cái xóm lúc chưa ai chỉnh trang lại mặt mũi cho khách.

Đi ngang một sân khác, tôi thấy một con trâu đứng buộc ở gốc mít, đầu cúi xuống húc húc vào cái máng gỗ trống trơn, chắc đợi cho ăn. Chủ nhà chưa ra. Tôi đứng lại nhìn nó một lúc, thấy nó khịt mũi phà hơi ra thành một vệt trắng mỏng rồi tan ngay trong không khí còn lạnh. Tôi rút điện thoại định chụp, nhưng màn hình tối thui, hết pin từ hồi nào tôi không rõ, đành cất lại vào túi, bước tiếp.

Ở khúc ngõ rẽ vào nhà có cây khế, tôi gặp một đứa nhỏ đi ngược lại, balo vải đeo lệch một bên vai, tay kia xách một túi nilon buộc túm, chắc đựng cơm trưa. Nó đi học sớm hơn tôi tưởng giờ vào lớp. Thấy tôi, nó dừng hẳn lại, đứng nhìn một lúc rồi mới chào.

"Cô chào." Nó nói cụt, không thêm "ạ" vào sau, giọng còn ngái ngủ.

"Chào em. Em đi học à?"

Nó gật. Rồi nó đưa tay lên, vén một mảng tóc phía trước trán, chìa ra cho tôi xem, ngón tay chỉ vào đúng chỗ đó.

"Cô ơi, cái ni tiếng mình gọi là chi ạ?"

Tôi cúi xuống nhìn. Tóc nó ướt, không phải ướt kiểu vừa tắm, mà lấm tấm từng hạt nhỏ li ti bám dọc theo mấy sợi tóc mai, sáng lên một chút dưới cái ánh còn xam xám của trời chưa hửng hẳn. Sương. Loại sương đọng chứ không phải sương bay, đọng lại vì đi ngoài trời lúc trời còn lạnh.

"Cô cầm cái sổ, chắc cô biết nhiều chữ hơn cả người làng," nó nói thêm, mắt vẫn nhìn tôi chờ.

Tôi bật cười, không hẳn vì câu đó buồn cười, mà vì cách nó nói, thẳng và chắc như đang hỏi giờ. Tôi định bảo cô không phải người ở đây, cô cũng đang học đấy chứ, thì nó đã nói tiếp, giọng nhỏ hơn, như đang nhắc cho tôi nhớ chứ không phải đang hỏi:

"Mưn."

Tôi lặp lại, gần như ngay lập tức, kiểu người ta gật đầu khi ai đó vừa xác nhận một điều mình đoán đúng.

"À, mưn là sương đọng trên tóc lúc đi sớm nhỉ. Hay ghê."

Tôi nói câu đó chắc như thể tôi vừa được ai dạy hôm qua, dù chưa ai dạy tôi cả. Nó nghe hợp lý quá, hợp với cái cảnh trước mắt quá, nên tôi nói ra mà không kịp nghĩ mình đang nói ra cái gì. Đứa nhỏ gật đầu lia lịa, cười toe, để lộ một cái răng sún ở hàm dưới.

"Ừ đó," nó nói, có vẻ hài lòng hơn cả tôi, rồi xốc lại cái balo, chạy đi luôn, dép tổ ong kêu lẹp bẹp trên nền đất ẩm. Được mấy bước nó còn ngoái lại vẫy tôi một cái, không nói gì thêm, rồi mất hút sau rặng tre ở khúc quanh.

Tôi đứng lại một mình giữa ngõ, cốc nước vối trong tay đã nguội hẳn. Tôi lấy trong túi áo khoác ra cuốn sổ nhỏ, cuốn tôi để riêng cho mấy việc lặt vặt, không phải ba cuốn bìa cứng dùng ghi chép chính thức. Tôi mở một trang mới, viết:

mưn = sương đọng trên tóc lúc đi sớm (bé trai xóm Bến, sáng ngày 2)

Tôi gấp sổ lại, bỏ vào túi, thấy vui vui. Mới có một buổi sáng mà đã bắt được một từ, còn bắt gọn, bắt đúng ngay từ miệng một đứa trẻ chứ không phải è cổ hỏi lại người lớn ba lần. Tôi nghĩ bụng thế này thì ba tháng chắc đủ, có khi còn dư, và bước tiếp về phía sân đình, nơi tiếng máy xay hôm qua đã tắt, giờ đổi thành tiếng ai đó đang quét sân bằng chổi xể, xoèn xoẹt đều một nhịp.

Buổi sáng còn lại tôi dành để đi vòng quanh xóm Bến, không cầm máy ghi âm, cũng không mở sổ bìa cứng ra hỏi han gì. Tôi chỉ đi, chào, đứng lại xem người ta làm việc. Cách này tôi học được từ một chuyến điền dã hồi năm hai: ngày đầu mà đã dí máy vào mặt người ta thì cả tháng sau họ vẫn nói với mình bằng cái giọng dành cho người lạ.

Tôi ghé qua nhà có cái chuồng gà quây B40, gặp một ông đang buộc lại mấy thanh rào bị bung. Ông ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tôi ở nhà bà Rớt phải không, rồi quay lại buộc dây, không hỏi thêm gì. Tôi đứng xem một lúc, đếm được ông buộc bốn nút, mỗi nút quấn ba vòng.

Đi tiếp, tôi gặp hai bà đang gánh nước từ giếng chung ở cuối ngõ, đòn gánh kĩu kịt, nước sóng ra ngoài thùng theo mỗi bước chân, để lại một vệt sẫm chạy dọc lối đi. Một bà hỏi tôi ăn sáng chưa, tôi bảo chưa, bà bảo về ăn đi, ra sớm làm gì cho đói bụng. Giọng bà không có ý trách, chỉ là nhắc, kiểu nhắc người nhà.

Ở gần cuối xóm, tôi thấy một khoảng sân trống có mấy vệt phấn kẻ ô trên nền xi măng, chắc trẻ con hay chơi nhảy lò cò ở đó, giờ này vắng vì đứa nào cũng đi học cả rồi. Cạnh đó là một cái miếu nhỏ xây gạch trần, chưa trát vôi, cửa khép hờ, không nhang khói gì mới. Tôi không vào, chỉ đứng nhìn từ ngoài, ghi nhớ vị trí để hỏi sau, không phải hỏi hôm nay.

Quành ra phía sau miếu là một cái ao nhỏ, bèo phủ gần kín mặt, có một cây cầu gỗ độc mộc bắc ra giữa ao, đầu cầu buộc một sợi dây thừng cũ, chắc để kéo bèo lên cho lợn ăn. Một người đàn ông đứng dưới ao, nước ngập tới bắp chân, tay cầm cái vợt tre vớt bèo, ném từng vợt lên bờ, thành một đống xanh mướt đang bốc hơi nhẹ. Ông ngẩng lên chào tôi trước, hỏi tôi có phải cô nghiên cứu sinh xã báo hôm qua không, tôi đáp có, ông gật rồi cúi xuống vớt tiếp, không hỏi thêm câu nào khác. Tôi đứng xem hết một hồi mới đi, đếm được ông vớt liền tám vợt, không nghỉ tay lần nào.

Tôi quay về nhà bà Rớt lúc mặt trời đã lên khỏi rặng núi phía đông, nắng bắt đầu hắt vào sân, hong khô chỗ đất còn ẩm sương. Bà Rớt đang ngồi tách hạt mít phơi khô, tay thoăn thoắt, không ngẩng lên khi tôi bước vào cổng.

"Đi mô về rứa? Cả xóm biết mặt cô rồi đó," bà nói, giọng có ý trêu.

"Dạ cháu đi một vòng cho biết đường ạ." Tôi ngồi xuống bậc hiên, lấy cuốn sổ bìa cứng ra, mở trang trắng đầu tiên. Tôi ghi ngày, ghi giờ, rồi ghi một dòng gọn: xóm Bến dậy sớm, khoảng năm rưỡi đã có người nhóm bếp; giếng chung cuối ngõ, hai lượt gánh sáng; trẻ con đi học sớm hơn giờ vào lớp khá nhiều.

Tôi lật sang cuốn sổ nhỏ, xem lại dòng vừa viết sáng nay, đọc thầm một lượt cho chắc chính tả, rồi gấp cả hai cuốn lại, đặt song song nhau trên đầu gối, cuốn to dưới, cuốn nhỏ trên. Bà Rớt vẫn ngồi tách hạt mít, thỉnh thoảng hất một cái vỏ ra khỏi nong, tiếng vỏ khô rơi lộp bộp xuống nền xi măng, đều đặn như một cái đồng hồ không cần lên dây.

Hết Chương 3
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 4 →
← TrướcTiếp →