Tiếng mõ gõ ba tiếng cách đều vang lên lúc tôi còn cầm đôi đũa gắp miếng cà cuối cùng trong bát. Bà Rớt đặt bát xuống ngay, chưa ăn hết phần cơm, đứng dậy với tay lấy cái đèn pin để trên nóc chạn.

"Họp." Bà nói, không quay lại nhìn tôi. "Ăn nốt đi rồi ra, không kịp cũng được, ngồi cuối cho."

Tôi nuốt vội miếng cơm còn trong miệng, đứng dậy theo bà ra sân. Ngoài ngõ, vài nhà khác cũng đang tắt bếp, dắt xe đạp hoặc cầm đèn đi bộ về phía sân đình. Không ai chạy, không ai gọi nhau í ới. Người ta đi như đi chợ sáng, chậm, đều, mắt dán vào con đường đất trước mặt hơn là ngó nghiêng xem có chuyện gì sắp xảy ra.

Sân đình tối, chỉ có ba cái đèn bão treo trên cột và vài cái đèn pin người ta mang theo đặt dưới đất, ánh sáng hắt lên thấp, đủ nhìn mặt nhau chứ không đủ soi hết sân. Không có mâm lễ nào bày ra, không có mùi nhang, chỉ có mùi khói bếp còn vương trên áo mọi người và mùi đất ẩm bốc lên sau một ngày nắng. Cái mõ gỗ treo cạnh cột đình đã ngừng gõ, nằm im, dùi mõ gác bên cạnh, như một việc đã xong, không cần ai tuyên bố thêm gì.

Cụ Trạc ngồi ở một cái bàn con kê giữa sân, sổ chữ đặt trước mặt, vẫn bọc trong lớp vải như mọi lần tôi thấy ở nhà cụ. Một cây bút chì để cạnh, đầu đã vót nhọn từ trước. Ông Lịnh ngồi bên trái cụ, không cầm quạt nan hôm nay, hai tay để không trên đầu gối. Người làng ngồi thành từng cụm không theo hàng lối, trên chiếu, trên ghế đẩu mang theo, có người đứng dựa cột. Tôi tìm được một chỗ trống gần rìa, cạnh Miên, người đã tới trước, đang bó gối ngồi im.

"Chị cũng phải họp à?" Miên hỏi khẽ, không nhìn tôi, mắt nhìn về phía bàn cụ Trạc.

"Chị không biết. Bà Rớt bảo đi thì đi." Tôi nói thật.

Cụ Trạc không đợi ai ổn định chỗ ngồi hẳn. Cụ mở sổ, không đọc lời mở đầu nào, cứ thế bắt đầu, giọng khàn nhưng còn rõ từng chữ.

"Bà Vấn." Cụ gọi, không ngẩng lên.

Một bà cụ ngồi gần hàng đầu đáp "Dạ" khẽ.

"Gánh bà tới đâu rồi."

"Tôi thấy chật lắm rồi cụ ạ." Bà Vấn nói, giọng không than vãn, chỉ như báo một việc bình thường. "Mấy hôm nay cứ định nhớ tên cái rá mắt nhỏ đan bằng tre là lại quên mất, phải hỏi lại con dâu tôi."

"Vậy để nó rơi, đừng cố giữ." Cụ nói, ghi gì đó vào sổ, không nhìn lên. "Giữ ép nó lại càng rơi lung tung, mất luôn cả cái không đáng mất."

Cụ gọi tiếp vài tên khác. Ông Chuân bảo gánh ông vẫn còn chỗ, nhưng không nhiều. Bà Thìn bảo bà thấy hai từ gần đây cứ lẫn vào nhau, nói ra không phân biệt được, chắc sắp rơi một trong hai. Mỗi lần một câu hỏi ngắn, mỗi người tự nói gánh mình đang ở đâu bằng cảm giác, không ai tra sổ đối chiếu, không ai cãi lại người khác nói sai. Tôi ngồi nghe, nhận ra không có cách nào kiểm chứng lời ai cả. Người ta chỉ tự ước, và cả sân đình mặc nhiên tin nhau, vì không còn cách nào khác.

Ông Lịnh bổ sung một câu, quay ra cả sân. "Còn ai muốn nhận thêm không."

Không ai đáp ngay. Một lúc sau, Miên khẽ giơ tay, rồi hạ xuống nửa chừng.

"Cháu... gánh cháu còn trống nhiều." Cô nói, giọng nhỏ. "Nhưng cháu chưa muốn nhận thêm đợt này. Để tính sau."

Không ai ép cô. Ông Lịnh gật, ghi lại một dòng, chuyển việc khác. Tôi để ý người làng nhìn Miên một thoáng rồi thôi, không ai nói gì thêm, đúng như cô từng bảo tôi: ai cũng nhìn cô như nhìn một cái kho, chỉ là hôm nay không ai mở miệng đòi mở kho ra.

"Còn một việc nữa." Ông Lịnh đứng dậy khỏi ghế. "Chuyện bỏ tiếng cho nhợn. Cần chọn mồi."

Sân đình yên hẳn lại, khác cái yên lặng lúc gọi tên gánh ban nãy. Ông Lịnh nói ngắn, đúng như đã nói với tôi và cụ Trạc mấy hôm trước: bỏ một tiếng thì phải trả một tiếng khác, từ càng ít người dùng thì càng đỡ hụt khi nó mất, việc chọn không phải của riêng ai.

"Tôi nghĩ tới cái blẹng." Ông Chuân lên tiếng trước, tay gãi cằm. "Bọn trẻ giờ có đứa nào còn gọi cái bánh ấy bằng tên đó đâu, toàn gọi bánh giỗ thôi, tiếng ngoài. Ít người dùng, chọn nó là hợp lý nhất."

Bà Rớt đứng phắt dậy, đèn pin trong tay bà run một cái, quét ngang một vệt sáng lên mái đình.

"Không được." Bà nói, giọng cao hẳn lên. "Cái đó thì không được."

"Bác Rớt bình tĩnh." Ông Chuân nói, không phải để lấn át, chỉ để giữ nhịp cuộc họp. "Cháu không cố ý nhắm vào bác. Cháu chỉ nói theo cái tiêu chí mình đang bàn thôi, ít người dùng thật mà."

"Ít người dùng vì có ai còn làm cái bánh ấy nữa đâu, ngoài tôi." Bà Rớt nói, tay siết chặt cái đèn pin. "Ít không có nghĩa là bỏ được. Có những cái ít mà vẫn phải giữ."

Ông Lịnh không vội đáp. Ông để cho câu đó lơ lửng giữa sân một lúc, rồi mới nói, chậm.

"Bác nói đúng một nửa. Nhưng cái mồi nào chọn cũng có người tiếc, không có cái nào chọn ra mà ai cũng vui cả. Nếu không phải blẹng thì phải là cái khác, cũng sẽ có người đứng lên nói y như bác vừa nói."

Vài người góp thêm, có người nhắc tên khác, một cách buộc dây, một câu chào cũ không ai còn dùng đúng cách. Mỗi cái tên đưa ra đều bị gạt vì lý do này lý do khác, người còn dùng nhiều quá, người sợ động vào nhà nào đó đang có việc buồn. Cuối cùng câu chuyện lại quay về blẹng, vì nó đúng thật: cả sân đình, ngoài bà Rớt, không ai còn gọi cái bánh ấy bằng cái tên đó nữa.

"Biểu quyết đi." Cụ Trạc nói, đặt bút chì xuống bàn. "Nói mãi không xong đâu. Ai chọn blẹng thì giơ tay."

Tôi nhìn quanh, thấy tay người này người kia bắt đầu đưa lên, chậm, không hào hứng, như đang làm một việc cần làm chứ không phải một việc muốn làm. Ông Chuân giơ tay. Bà Thìn giơ tay. Miên ngồi cạnh tôi, tay vẫn để trên đầu gối, không nhúc nhích.

Ông Lịnh đếm, môi mấp máy theo từng cánh tay, mắt không rời sân. Cụ Trạc ngồi im, không giơ tay, chỉ nhìn, chờ con số cuối cùng.

Tôi biết tay mình sẽ phải đưa lên. Tôi biết trước khi ông Lịnh đếm tới chỗ tôi ngồi. Cánh tay tôi đưa lên cùng lúc với hơn nửa số người trong sân, không sớm hơn, không muộn hơn, đúng vào lúc phần đông đã ngả về một phía. Tôi không nhìn về phía bà Rớt lúc giơ tay. Tôi nhìn vào cái bàn con giữa sân, vào cây bút chì cụ Trạc vừa đặt xuống, vào bất cứ chỗ nào không phải khuôn mặt bà.

"Quá bán." Ông Lịnh nói, hạ tay xuống. "Chọn blẹng."

Cụ Trạc kéo sổ chữ lại gần, mở trang có mục nhợn, lật thêm vài trang tìm mục blẹng, cầm bút chì viết một dòng nhỏ vào lề trang, chữ nhỏ, nghiêng, khác hẳn nét mực đậm ở phần chính văn. Tôi thấy trang giấy chỗ đó đã cũ hơn những trang khác, có vệt mờ của những dòng viết rồi tẩy đi từ trước, chồng lên nhau thành một mảng xám nhạt.

"Xong." Cụ nói, không thêm gì, gấp sổ lại, bọc vào vải.

Không ai vỗ tay, không ai đứng dậy tuyên bố buổi họp kết thúc. Người ta chỉ bắt đầu thu dọn chiếu, tắt bớt đèn pin, chào nhau bằng những câu bình thường như lúc tan họp tổ dân phố, hỏi mai ai đi chợ huyện, hỏi lúa nhà ai gặt trước. Ông Lịnh cất bàn ghế con vào hiên đình. Cụ Trạc được một người cháu dìu đứng dậy, bước chậm về phía cổng, sổ chữ ôm trước ngực.

Tôi đứng lên, phủi chiếu bám vào quần, tìm bà Rớt trong đám người đang tản ra.

Bà đã đứng đó từ lúc nào tôi không biết, ngay cạnh lối tôi sắp đi qua, đèn pin đã tắt, cầm lỏng trong tay. Bà nhìn thẳng vào tôi, không chớp, không quay đi như mọi lần bà tránh nhìn ai đó lâu. Bà không nói một câu nào. Tôi đứng đó, chờ một câu mắng, chờ bất cứ câu gì, nhưng bà chỉ nhìn, rồi quay người, xách đèn đi trước tôi về phía nhà, không đợi tôi theo kịp.

Hết Chương 39
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 40 →
← TrướcTiếp →