Bà Rớt nhờ tôi mang sang nhà ông Lịnh một gói lá thuốc, buộc chỉ đỏ ở miệng túi, dặn đưa tận tay, nói ông dạo này hay đau lưng lúc trở trời, sắc uống ngày hai lần, để nguội bớt mới uống. Tôi bọc thêm một lớp túi ni lông ngoài cho khỏi ẩm, cầm gói lá đi qua mấy vườn chuối, con đường tôi đã thuộc từ lâu, không cần soi đèn nhiều, chỉ bật lên ở mấy đoạn có rễ cây trồi lên mặt đất.
Cổng nhà ông khép hờ. Không có tiếng radio. Tôi đứng ngoài sân một lúc, ngờ ngợ, vì tối nào ngang qua đây tôi cũng nghe văng vẳng cải lương hay chèo, có hôm còn nghe cả tiếng ông hát nhép theo, giọng lệch tông mà ông vẫn hát tỉnh bơ như đúng nhịp.
Ông ngồi trên phản, một bó lạt tre tươi để bên cạnh, mới chẻ, còn thấy rõ màu xanh nhạt của cật tre. Tay ông đang xoắn từng sợi, chậm, đều, ngón cái miết theo chiều sợi lạt rồi bẻ gập lại đúng ba vòng, chỗ nào lệch tay thì ông tháo ra làm lại, không vội. Mắt ông nhìn xuống tay, không ngẩng lên ngay khi tôi bước vào sân.
"Con chào ông ạ. Bà Rớt gửi ông gói lá này." Tôi đặt gói lá lên mép phản, ngồi thụp xuống một lúc để cởi dép ngoài hiên như mọi lần.
"Ừ." Ông gật, không với tay lấy ngay, vẫn xoắn nốt sợi lạt đang cầm cho xong một vòng rồi mới đặt xuống. "Cô ngồi đã."
Tôi ngồi xuống cái ghế mây quen thuộc. Ông không rót nước, không hỏi câu vẫn hay hỏi mỗi lần tôi tới, ăn cơm chưa, dạo này ghi được gì hay. Ông chỉ ngồi đó, tay làm việc, mắt vẫn cúi.
"Con Miên hôm kia sang đây," ông nói, không nhìn tôi. "Ngồi cả buổi tối. Nó lo, cô ạ. Lo đủ thứ, lo bụi tre, lo cả cụ Trạc mất giọng, lo cả cái thứ gì nó không tả được nhưng thấy trong người không yên."
Tôi im, hai tay đặt trên đùi, cố giữ mặt bình thường.
"Nó kể chuyện lung tung cho tôi nghe, kiểu người đang lo thì hay kể," ông nói tiếp, giọng vẫn đều như đang kể chuyện thời tiết. "Có đoạn nó nhắc tới cô. Bảo có lần dẫn cô đi tắt qua khe Mọ, kể cô nghe chuyện bà nó hay doạ hồi nhỏ, con gì đó ăn cỏ ướt ban đêm, không có bóng. Nó cười, bảo chắc tự nhiên nhớ ra vì dạo này ngày nào cũng nghe nhắc tới bóng."
Tim tôi đập nhanh hơn, nhưng tôi chưa nói gì.
"Nó còn kể một chuyện khác, không liên quan, nó nghĩ vậy," ông nói. "Bảo cái đêm trước hôm phát hiện bụi tre, nửa đêm nó nghe cổng nhà mở khẽ một tiếng, tưởng con chó, ngủ tiếp. Sáng ra thấy cô đã đi từ lúc trời chưa sáng hẳn, tưởng cô lên dốc Nghẹo gọi điện như mọi lần."
Ông đặt sợi lạt vừa xoắn xong sang một bên, cầm sợi mới lên, chưa xoắn ngay.
"Con bé không nghĩ gì khi kể đâu," ông nói. "Nó chỉ đang lo, kể cho có người nghe. Tôi già rồi, quen cái tật nghe người ta nói rồi tự xếp chỗ cho nó, không định làm gì với những cái đó cả, tự nó xếp vào đúng chỗ thôi."
Tôi nhìn xuống hai bàn tay mình, không biết đặt câu trả lời nào trước.
"Bãi Trổ với xóm bà Rớt cách nhau một quãng," ông nói, giọng vẫn nhẹ, không nặng hơn một chút nào so với lúc ông nói chuyện thời tiết. "Chỗ đó vắng nhất đường đi, cô cũng hay qua đó lên dốc. Ai muốn đọc cái gì to mà không muốn ai nghe thấy, cũng chỉ có mỗi chỗ đó là hợp."
Ông ngẩng lên, nhìn thẳng vào tôi lần đầu tiên từ lúc tôi bước vào sân.
"Cô đọc cái gì to ở ngoài bãi Trổ đêm hôm đó?"
Câu hỏi rơi ra gọn, không lên giọng ở cuối, không có gì giống một lời buộc tội. Nhưng tôi nghe nó chạm đúng chỗ tôi đã giấu kín suốt hơn một tuần nay, chỗ tôi từng nghĩ không ai chạm tới được vì không ai có đủ mảnh để ráp lại.
Tôi ngồi im một lúc, hai tay siết vào nhau trên đùi. Ngoài sân có tiếng gà xao xác một hồi rồi im, chắc con nào đó vừa bị chuột chọc ổ. Ông không giục, không nhắc lại câu hỏi, chỉ ngồi chờ, tay cầm sợi lạt mới nhưng chưa xoắn.
Tôi mở miệng, định nói câu quen thuộc, đất đá vôi lâu năm, rễ tre già cỗi, câu tôi đã dùng với Miên. Nhưng nhìn ông ngồi đó, tay vẫn cầm sợi lạt chưa xoắn, mắt không rời khỏi tôi, tôi thấy câu đó không đi ra được. Tôi đã nói dối Miên một lần, nói dối chính mình nhiều lần hơn thế, và tôi không còn sức để dựng thêm một câu nữa.
"Con đặt nghĩa cho một mục trong sổ," tôi nói, giọng nhỏ, gần như không phải giọng của mình. "Mục 77. Nhợn."
Ông không nói gì, chỉ hơi gật, ra hiệu tôi nói tiếp.
"Con đọc nó là con vật ăn cỏ ướt ban đêm, không có bóng." Tôi nói hết một mạch, sợ dừng lại giữa chừng thì không đủ can đảm nói nốt. "Con đọc hai lần. Con tin chắc lúc đọc, đúng kiểu cụ Trạc dặn phải tin thì mới thành. Sáng hôm sau bụi tre mất bóng."
"Cô biết mục đó là mục mòn không," ông hỏi, giọng vẫn không đổi.
"Con không biết ạ." Tôi dừng lại, tìm chữ. "Con chỉ thấy chỗ giảng nghĩa của nó có một vệt mực cũ đã bị xoá đi, khác hẳn mấy mục trống trơn kia. Con tưởng là đã có ai viết rồi lại bỏ dở. Con tưởng thế thì dễ hơn, vì đã có sẵn cái gì đó để bám vào."
"Cô nghĩ sai," ông nói, không gay gắt, chỉ như đang sửa một con số tính nhầm. "Mòn khó hơn trống nhiều. Nhưng thôi, chuyện đó tính sau."
Tôi kể tiếp, không đợi ông hỏi thêm, cả cái đêm ở bãi Trổ, cách tôi chọn giờ đợi bà Rớt ngủ hẳn, cách tôi nhấc cánh cổng cho khỏi kêu, cách tôi đứng dậy để giọng ra thẳng, cách tôi đợi sáu mươi nhịp rồi đọc lại lần hai, chậm hơn, tách từng chữ. Tôi kể việc về tới ngõ tôi cởi dép xách tay vào nhà cho khỏi tiếng động, kể việc mình ngủ rất nhanh sau đó, nhanh hơn cả những đêm không có chuyện gì. Tôi kể cả việc mình đã định xé trang sổ ghi lại chuyện đó, ngón tay đã kéo được nửa phân giấy, rồi dừng lại, gấp sổ, giấu vào ngăn trong cùng ba lô. Tôi kể việc mình đã nói dối Miên ngay hôm sau, dựng ra một câu về đất đá vôi, rễ tre già cỗi, một câu tôi bịa hoàn toàn ngay lúc nói.
Ông nghe hết, không ngắt lời một lần nào, tay vẫn cầm sợi lạt, thỉnh thoảng xoay nhẹ nhưng không xoắn tiếp. Ông không hỏi tôi có sợ không, có ân hận không, có nghĩ tới hậu quả trước khi đọc không.
"Đọc mấy lần," ông hỏi, câu đầu tiên trong hai câu ông hỏi thêm.
"Hai lần ạ. Con đọc lại lần hai vì sợ lần đầu gió cắt mất chữ."
"Cô có ghi lại nguyên văn không, ngày nào, giờ nào."
"Con ghi trong sổ tay riêng, không phải sổ chữ của cụ. Ngày 5 tháng 10, gần nửa đêm ạ."
Ông gật, không hỏi thêm gì khác. Cả hai câu đều là câu của người cần biết sự việc để tính toán, không phải câu của người cần biết cảm giác của tôi lúc đó ra sao.
Kể xong, tôi ngồi im, chờ. Tôi đã hình dung cảnh này nhiều lần trong đầu suốt mấy đêm mất ngủ, và trong mọi hình dung, luôn có một câu mắng, nhẹ hay nặng, luôn có một ánh mắt đổi khác nhìn tôi từ giờ về sau.
Không có gì như vậy xảy ra.
Ông ngồi yên, hai tay đặt lên đùi, sợi lạt tre nằm yên giữa các ngón tay, không xoắn thêm một vòng nào nữa. Cái quạt nan ông vẫn hay cầm nằm im trên phản, gần chỗ gói lá thuốc tôi đặt lúc nãy. Ngoài sân, tiếng côn trùng vẫn đều, không có gì đổi khác trong đêm, chỉ có ông ngồi lâu hơn bất cứ lúc nào tôi từng thấy ông ngồi lặng như thế.
"Được," ông nói, sau cùng. "Để tôi tính."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 37 →