Tôi mang máy ghi âm ra đình để phỏng vấn bác thủ từ về cách sắp mâm cỗ ngày rằm, hẹn từ tuần trước, nhưng tới nơi thì bác báo bận đột xuất, phải sang xóm Đồi giúp nhà người quen dựng lại mái bếp bị tốc ngói hôm mưa.

Trên đường ra đình, tôi đi ngang cái quán tạp hoá, thấy vài người ngồi uống nước chè, bàn chuyện xe chở phân bón hôm nào tới, không ai nhắc gì tới chỗ bụi tre nữa, như thể chuyện đó đã thành một phần bình thường của mấy hôm nay, giống chuyện trời sắp trở gió hay chuyện nhà ai mới lợp lại mái. Tôi thấy nhẹ người một chút vì điều đó, rồi lại thấy cái nhẹ ấy đáng ngờ, vì tôi biết rõ hơn ai hết cái bình thường này chỉ là bình thường ở bề mặt.

Tôi đứng giữa sân đình một lúc, máy ghi âm vẫn cầm tay, phân vân có nên về luôn hay ngồi đợi xem có ai khác tiện hỏi chuyện không. Nắng chiều hắt xiên qua mái đình, đổ một vệt dài trên nền gạch, đàn chim sẻ sà xuống mổ vài hạt thóc rơi vãi từ đợt phơi tuần trước rồi bay vụt lên khi có tiếng xe máy chạy ngang ngoài đường.

Tôi thấy ông Lịnh đứng ở góc sân, gần gốc cây đa già, quay lưng về phía tôi, mắt nhìn về hướng xa, phía sau lưng làng, chỗ có thể nhìn thấy nóc nhà bà Rớt và một chỏm xanh của bụi tre nhô lên sau hàng cau. Ông không cầm quạt nan như mọi lần tôi gặp, tay ông buông thõng, dáng đứng lâu như đã đứng đó một lúc rồi.

Tôi lại gần, định chào rồi đi luôn, nhưng ông đã quay lại trước khi tôi kịp mở miệng, như nghe được tiếng chân tôi từ xa.

"Cô Hoài," ông nói, giọng bình thường, không có vẻ gì bất ngờ. "Đi tìm ai à?"

"Cháu định hỏi chuyện bác thủ từ, nhưng bác bận rồi ạ." Tôi đứng lại cách ông vài bước. "Bác đứng đây làm gì thế ạ?"

"Đứng nhìn thôi." Ông quay lại nhìn về phía xa lần nữa, chỗ có chỏm tre xanh sau hàng cau. "Lâu lâu đứng đây nhìn cho mắt nó thoáng ra, ở nhà suốt ngày chật chội."

Tôi nhìn theo hướng mắt ông, thấy đúng chỗ tôi đoán, và bụng tôi thắt lại một cái, nhanh, rồi tôi cố giữ mặt bình thường.

Ông không nói gì thêm một lúc, chỉ đứng đó, thỉnh thoảng đưa mắt sang tôi rồi lại quay đi, cái kiểu nhìn của người đang cân nhắc có nên nói tiếp hay không mà chưa quyết hẳn. Tôi đứng chờ, không dám lên tiếng trước, sợ chính giọng mình sẽ lộ ra điều gì đó.

"Cô ở đây bao lâu rồi nhỉ," ông hỏi, vẫn nhìn ra xa.

"Dạ, hơn một tháng rồi ạ."

"Hơn một tháng." Ông gật gù, như đang nhẩm tính gì đó trong đầu. "Cô có thấy cái gì làm cô áy náy dạo này không?"

Câu hỏi rơi ra nhẹ tênh, đúng cái kiểu ông vẫn hỏi những chuyện vặt vãnh, giọng không nặng hơn lúc ông hỏi tôi ăn cơm chưa. Nhưng tôi nghe rõ có gì đó khác trong cách ông chọn từ. Ông không hỏi "cô có biết chuyện bụi tre không", không hỏi "cô có ra bãi Trổ đêm nào không". Ông hỏi một câu rộng hơn, mềm hơn, để chỗ cho tôi tự bước vào nếu muốn, và cũng để chỗ cho tôi bước ra nếu chưa sẵn sàng.

"Áy náy chuyện gì ạ?" Tôi hỏi lại, cố giữ giọng như đang không hiểu câu hỏi.

"Không biết," ông nói, nhún vai, gần như cười. "Tự hỏi thôi. Người ta hay giữ cái gì đó trong bụng lâu ngày thì mặt hay đổi khác, tôi để ý cô mấy hôm nay mặt khác hẳn mọi khi."

"Cháu chỉ hơi mệt thôi ạ, dạo này ghi chép nhiều." Tôi nói, biết ngay câu đó nghe không thật, nhưng không nghĩ ra câu nào khác kịp lúc.

Ông Lịnh không vặn lại. Ông chỉ nhìn tôi thêm một lúc, ánh mắt không có vẻ gì trách móc hay dò xét gắt gao, giống hơn cái nhìn của người đang đợi xem một hạt giống mình vừa gieo có nảy được không, không vội, không ép.

"Cô biết nghề của tôi không?" ông hỏi, đổi giọng, nhẹ nhàng hơn, gần với cái vẻ hay đùa quen thuộc của ông.

"Cháu nghe nói bác là người bỏ tiếng ạ."

"Ừ, bỏ tiếng." Ông gật, đưa tay xoa cằm, ra vẻ đang nghĩ ngợi. "Cái nghề này không giống nghề khác, cô biết vì sao không? Người khác làm cái gì thì thêm vào, tôi thì làm ra để bớt đi. Cả đời bố tôi cũng vậy, ông nội tôi cũng vậy. Bớt cho đúng người, đúng lúc, đúng chỗ, không phải muốn bớt là bớt được."

Ông kể một chuyện cũ, hồi bố ông còn sống, có lần dân làng cãi nhau ba tháng ròng về việc có nên bỏ tên một loại sâu hại lúa hay không, vì có người bảo bỏ tên nó thì nó cũng bớt phá, người khác bảo vớ vẩn, sâu bọ biết gì tên với tuổi. "Cãi nhau xong vẫn không bỏ được," ông nói, cười khẽ, không nói rõ vì sao không bỏ được. "Việc của tôi hiếm khi rẻ, cô ạ. Có khi giữ một cái sai còn dễ hơn sửa nó, vì sửa thì phải trả giá, mà cái giá đó không phải lúc nào tôi cũng nói trước được cho người ta nghe."

Tôi nghe câu đó, thấy nó nằm sát ngay cạnh chuyện tôi đang giấu, gần tới mức tôi phải cúi xuống giả vờ chỉnh lại dây đeo máy ghi âm để tránh mắt ông một lúc.

Có tiếng trẻ con cười đùa chạy qua sân đình, một đứa vấp chân ngã, mấy đứa khác dừng lại cười ầm lên rồi kéo nó dậy, cả bọn chạy tiếp ra phía cổng làng. Ông Lịnh nhìn theo chúng một lúc, mặt dịu hẳn đi, khác hẳn cái vẻ đang cân nhắc lúc nãy.

"Ông Tuất bảo dạo này ông ấy đi vòng," ông nói, không quay lại nhìn tôi. "Bà Hoạch cũng đi vòng. Cả cái xóm Bến giờ tối đến là thắp đèn để ngoài sân sau."

"Dạ, cháu cũng nghe."

"Cụ Trạc không phải người hay dặn dò vu vơ." Ông nói, giọng vẫn nhẹ, nhưng chậm hơn câu trước. "Cụ dặn cái gì thì thường có lý do, chỉ là cụ không hay nói lý do ra thôi."

Tôi không đáp lại câu đó, chỉ đứng im, hai tay siết chặt lấy cái máy ghi âm đang cầm, cảm thấy lòng bàn tay mình bắt đầu ướt.

Ông Lịnh đứng thẳng người lên, có vẻ như sắp đi. Ông đưa tay vuốt lại vạt áo, một động tác quen thuộc tôi từng thấy ông làm trước khi kể một câu chuyện đùa nào đó, nhưng lần này ông không kể chuyện đùa.

"Thôi," ông nói. "Cô về đi, trời sắp tối rồi."

Ông bước đi được vài bước, rồi dừng lại, quay đầu lại nhìn tôi lần nữa, khoé miệng nhếch lên một chút, nửa như đùa nửa như không.

"Tôi già rồi, nhưng tôi vẫn còn thính lắm đấy cô ạ," ông nói. "Chuyện gì rồi cũng có lúc tôi biết thôi, không sớm thì muộn."

Ông không đợi tôi đáp lại, quay người đi thẳng về phía cổng đình, dáng đi vẫn thong thả như mọi khi, không có gì vội vã, tay đã lại bắt đầu đưa lên như định lấy quạt nan ra phe phẩy dù trời chiều đã dịu hẳn.

Tôi đứng lại một mình giữa sân đình, máy ghi âm vẫn cầm nguyên trong tay, chưa bấm nút nào từ lúc ra khỏi nhà. Đàn chim sẻ đã bay đi từ lúc nào không rõ, sân đình vắng hẳn, chỉ còn tiếng xe máy xa xa ngoài đường lớn và tiếng chó sủa vọng lại từ phía xóm Trại.

Tôi nhìn theo bóng ông khuất dần sau cổng, nghe câu ông vừa nói lặp lại trong đầu, chậm rãi, không hề đe doạ, mà đúng vì không đe doạ nên nó càng nằm lại lâu hơn.

Hết Chương 34
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 35 →
← TrướcTiếp →