Bà Rớt tắt đèn lúc chín rưỡi, như mọi tối. Tôi nằm trong màn nghe bà trở mình hai lần, rồi nghe tiếng thở đổi sang một nhịp khác, chậm hơn và sâu hơn, cái nhịp tôi đã học được cách nhận ra sau hơn một tháng ngủ cách nhau một tấm vách nứa. Con chó ngoài sân đứng dậy đổi chỗ nằm một lần rồi thôi. Tôi đợi thêm chừng một tiếng nữa cho chắc.

Rồi tôi vén màn, ngồi dậy, xỏ dép.

Việc chuẩn bị hết chưa tới hai phút, vì tôi đã nghĩ qua nó từ chiều. Sổ tay bỏ vào túi vải đeo chéo. Điện thoại sạc gần đầy. Cái đèn pin nhỏ bà Rớt vẫn để trên chạn, cạnh hộp diêm. Máy ghi âm thì tôi cầm lên, rồi đặt xuống. Tôi tự nhủ là ngoài bãi gió to, thu vào cũng chỉ được một mớ tiếng ù. Đó là lý do tôi đưa ra cho mình tối hôm ấy, và tôi không xét lại nó thêm lần nào nữa trong suốt nhiều năm sau đó.

Cổng nhà bà Rớt có cái chốt gỗ, kéo ngang thì kêu. Tôi nhấc cánh cổng lên một chút cho bản lề đỡ nặng, rút chốt, khép lại sau lưng, ba việc bằng một tay, chậm. Con chó ngẩng đầu nhìn tôi rồi nằm xuống. Nó quen tôi từ tuần thứ hai.

Ra tới ngõ thì trời sáng hơn tôi tưởng. Trăng thượng tuần treo chếch trên vách đá phía tây, đủ để đi đoạn đường bê tông mà không cần bật đèn. Tôi tắt đèn pin, cầm nó trong tay cho tay có việc.

Từ nhà bà Rớt xuống bãi Trổ đi bộ mất chừng hai mươi phút. Qua cầu tre bắc ngang khe Mọ, ván kêu cọt kẹt dưới chân, tôi bước sát mép cho đỡ tiếng. Hết cầu thì rẽ xuống lối mòn men theo bờ khe, lối này hẹp, cỏ hai bên đã ướt sương từ lâu, quệt vào ống chân lạnh buốt. Tôi đi chậm, nhìn kỹ chỗ đặt chân, có mấy đoạn đá lở phải bám vào bụi lau mà bước qua.

Tôi chọn bãi Trổ vì nó là chỗ xa nhà người nhất mà tôi biết đường ra. Nhà cuối cùng của xóm Trên cách đó gần một cây số, khuất sau một mỏm đá, và ban đêm không ai xuống bãi làm gì. Tôi tự nhủ là để khỏi làm ai mất ngủ.

Bãi Trổ mùa này cạn. Nước khe rút vào giữa lòng, chỉ còn một dải chảy rộng bằng manh chiếu, luồn qua mấy hòn đá lớn, kêu đều và không to. Phần bãi lộ ra là cát pha sỏi, đi lên nghe lạo xạo. Mấy bụi lau mọc thành hàng ở mép trong, cao ngang ngực, đứng im vì gió đêm ấy thổi dọc lòng khe chứ không tạt ngang. Tôi có ghi trong sổ từ tuần đầu rằng đây là chỗ ông Trổ dựng lều lần đầu, ba trăm sáu mươi ba năm trước. Đêm ấy tôi không nghĩ tới chuyện đó lấy một lần.

Tôi tìm một hòn đá phẳng, ngồi xuống, đặt túi vải lên đùi. Mở điện thoại, tìm lại tấm ảnh chụp trang có mục 77, phóng to đúng cỡ tôi vẫn phóng. Rồi mở sổ tay, lật tới trang tôi viết ba tối trước, dòng chữ nằm đó, mực đã khô hẳn, chữ hơi nghiêng vì tối đó tôi viết trong ánh đèn pin dựng nghiêng trong cốc.

Tôi đọc lại một lần trong đầu. Rồi tôi đứng dậy.

Không phải vì cần đứng. Chỉ là ngồi thì giọng không ra được thẳng, và tôi biết chuyện đó từ mấy năm đi báo cáo hội thảo. Tôi đứng quay mặt về phía lòng khe, cầm sổ bằng tay trái, đèn pin tay phải, rọi xuống trang giấy. Tôi hắng giọng một cái.

Tôi nhớ lại cái đêm nói khươm, nhớ chính xác cái giọng tôi đã dùng lúc ấy, giọng của người đọc lại một mục từ đã hoàn chỉnh cho người hướng dẫn nghe, không lên không xuống ở cuối câu, không chừa chỗ nào cho một dấu hỏi. Đêm nay tôi không cần mò tìm cái giọng đó nữa. Tôi lấy nó ra và dùng.

"Nhợn," tôi nói.

Tôi để cái tên đứng một mình một nhịp, đúng như khi đọc một mục trong bản thảo, rồi đọc tiếp, rõ từng chữ một.

"Con vật ăn cỏ ướt ban đêm, không có bóng."

Tiếng tôi vọng sang vách đá bên kia khe, một lần, rồi tắt.

Không có gì xảy ra cả.

Gió vẫn thổi dọc lòng khe, đều, lùa qua mấy bụi lau ở mép trong. Nước vẫn chảy qua chỗ đá lớn, vẫn cái tiếng ấy, không đổi nhịp. Xa trên đồi Sim có con chim gì kêu hai tiếng rồi thôi. Tôi đứng nguyên, đèn pin vẫn rọi xuống trang sổ, chờ.

Tôi đếm thầm tới sáu mươi, rồi đếm thêm một lượt sáu mươi nữa.

Rồi tôi đọc lại lần thứ hai, to hơn, chậm hơn, tách rời từng chữ, vì tôi nghĩ có thể lần đầu tôi nói nhanh quá. Lần này tôi nghe rõ tiếng mình hơn, nghe cả cái cách nó bị gió cắt mất đuôi câu. Sau đó tôi tắt đèn pin, đứng trong bóng tối chừng năm phút, hai tay buông xuống, nghe.

Nước. Gió. Lau. Không có gì khác.

Tôi ngồi xuống hòn đá, hơi hụt, cái hụt của người vừa nộp bài xong mà không có ai chấm. Rồi tôi tự nhắc mình một chuyện, và nó làm tôi yên tâm ngay: đêm nói khươm, cũng không có gì hết. Cái quạt vẫn quay, con thạch sùng vẫn tặc lưỡi, tôi còn đi ngủ được. Phải tới sáng hôm sau, ngoài giếng, mới có cái mùi ấy, và tới lúc bà Rớt gọi tên nó ra thì mọi thứ mới xong. Cái này không nhanh. Cái này qua đêm.

Tôi bật đèn pin lại, mở sổ, ghi.

Ngày 5 tháng 10. Bãi Trổ. Gần nửa đêm. Đọc thành tiếng hai lần, câu đọc nguyên văn, có chép lại đúng từng chữ. Cuối cùng tôi ghi thêm một dòng nữa cho mình: kiểm tra sáng mai, hỏi vòng, không hỏi thẳng ai.

Chữ tôi tối đó đều và thẳng.

Lúc cúi xuống ghi, tôi thấy bóng mình đổ trên mặt cát, mờ, do trăng, hơi lệch về bên trái. Tôi ghi thêm một dòng về thời tiết, trăng thượng tuần, đủ sáng để đọc mà không cần đèn. Tôi không nghĩ gì về cái bóng cả.

Đường về tôi đi nhanh hơn lúc đi, không cần soi đèn ở đoạn nào. Người tôi nhẹ. Tôi không thấy sợ một giây nào, và chỗ đó về sau là chỗ tôi khó kể lại nhất. Tôi thấy mình vừa làm xong một việc. Trong đầu tôi lúc ấy chỉ có một con số. Một mục thì là may. Hai mục thì không ai gọi là may được nữa. Tôi nghĩ tới cái bảng thống kê mười một năm mà ông Nhượng vẫn mang theo trong cặp, nghĩ tới cái cách ông nói câu bốn năm so với bốn tuần, và tôi thấy dễ chịu theo một kiểu mà tối đó tôi không buồn gọi tên ra.

Về tới ngõ, tôi lại nhấc cánh cổng lên, cài chốt, cởi dép ở thềm, xách theo vào để khỏi kêu. Con chó không dậy. Trong buồng, tôi cất sổ tay vào túi vải, treo túi lên đầu giường, buông màn, nằm xuống.

Tôi ngủ rất nhanh. Đó là thứ tôi nhớ rõ nhất về đêm ấy.

Sáng hôm sau tôi dậy lúc năm rưỡi, trước cả bà Rớt, vì đã hẹn với chính mình là sẽ lên dốc Nghẹo sớm để gửi cho cô Sính mấy tệp ghi âm tuần vừa rồi cùng bản kê mục từ. Tôi rửa mặt qua ở giếng, uống nửa bát nước chè nguội từ tối, dắt cái xe đạp mượn của Miên ra khỏi ngõ, dắt bộ một đoạn cho khỏi kêu rồi mới lên yên. Miên còn ngủ trong buồng ngoài, tấm chăn kéo lên tận cằm. Cuối tuần nào cô cũng ngủ tới bảy giờ.

Tôi đạp qua cầu tre, qua xóm Bến, rồi bắt đầu leo. Đoạn cuối vẫn phải dắt bộ như mọi lần, bánh xe trượt trên lớp đá dăm rời. Lên tới mỏm, tôi dựng xe vào gốc mưng, đứng thở một lúc, rồi giơ điện thoại lên cao qua đầu.

Sóng lên hai vạch, rồi ba. Máy rung liên tiếp trong tay tôi, cái kiểu rung dồn cục của những tin nhắn bị kẹt lại đâu đó suốt cả đêm và cùng rơi xuống một lượt. Một tin của nhà mạng. Một tin bố nhắn từ tối qua, hỏi tôi ăn cơm chưa. Và một tin của Miên, gửi lúc sáu giờ năm mươi hai phút sáng nay.

Miên vẫn gọi nhà bà Rớt là nhà em. Cô lớn lên ở đó, ở với bà từ hồi còn bé tí, đến giờ vẫn nói thế, kể cả khi đứng ngay trong sân nói chuyện với bà.

"Chị ơi bụi tre sau nhà em kỳ lắm, chị qua xem đi."

Hết Chương 29
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 30 →
← TrướcTiếp →