Tiếng mõ gỗ gõ ba tiếng liền ở sân đình vào lúc chiều muộn, thứ âm thanh tôi chưa nghe từ ngày tới thung. Miên chạy sang gọi tôi, tay còn cầm dở cái chổi quét sân, nói gọn một câu: "Họp làng, chị đi xem không, hiếm lắm mới có." Tôi bỏ dở cuốn sổ đang chép, đi theo cô ra đình.

Người làng kéo tới lác đác, mang theo ghế nhựa, có người bê cả cái ghế đẩu gỗ từ nhà mình sang. Có người vừa đi vừa nhai dở miếng trầu, có người còn xắn quần lấm bùn chưa kịp rửa chân vì đang dở việc ngoài ruộng. Đến lúc tôi ngồi được xuống một góc hiên, sân đình đã đông hơn bất cứ lần nào tôi thấy, chừng ba mươi người, ngồi thành mấy cụm không đều, không ai xếp hàng lối gì. Ông Lịnh ngồi gần cột đình bên kia, thấy tôi nhìn sang thì nháy mắt một cái, nói khẽ đủ cho mấy người quanh nghe: "Họp làng mà đông hơn cả đám cưới, chắc vì lần này có nói tới tiền."

Ông trưởng thôn đứng lên trước, nói ngắn gọn về việc anh Nhượng, người vẫn hay lui tới thung mười mấy năm nay, có đề nghị đứng ra hỗ trợ làng một khoản, dùng vào việc sửa đường vào xóm Trại, mua thêm máy phát điện dự phòng cho mùa mưa, và trả một khoản công cho những ai giúp anh ghi chép tiếng trong một cách bài bản hơn, có lịch hẳn hoi chứ không phải gặp đâu hỏi đó như trước. Ông nói làng cần bàn, vì khoản đó không nhỏ, và ông không muốn tự mình quyết một mình.

Có tiếng xì xào ngay khi ông vừa dứt lời. Một người đàn ông ngồi gần cột đình lên tiếng trước, nói đường xóm Trại lún từ ba năm nay, mưa xuống là xe máy trượt bánh, có tiền sửa thì sửa, còn chần chừ gì. Vài người gật theo. Bà Rớt ngồi cách tôi không xa, không nói gì lúc đầu, chỉ đến khi có người quay sang hỏi ý bà mới lên tiếng, giọng thẳng như mọi lần: "Có ai cho không cái gì bao giờ đâu mà sợ. Người ta cần cái người ta cần, mình cần cái mình cần, sòng phẳng thì làm."

Tôi ngồi im, nhớ lại đúng câu bà từng nói với tôi trong bếp, hôm nhận phong bì từ Nhượng. Bà vẫn giữ nguyên cách nghĩ đó, không đổi một chữ.

Thầy Dền đứng dậy từ hàng ghế phía sau, chỗ gần cửa lớp học tạm kê sát đình. Ông mặc áo sơ mi trắng đã sờn cổ, tay cầm một cuốn sổ điểm danh, có lẽ vừa từ lớp bước ra chưa kịp cất. Cả sân hơi lặng đi một nhịp khi ông đứng lên, không phải vì ai sợ ông, mà vì cả làng đều biết ông sắp nói điều gì đó khó nghe theo cách rất dễ nghe.

"Thưa bác trưởng thôn, thưa các bác, các cô các chú." Ông cúi đầu chào một vòng, đủ lễ, chậm rãi, như đang mở đầu một tiết học. "Cháu không phản đối việc sửa đường, cũng không phản đối máy phát điện. Cháu chỉ xin hỏi rõ một việc trong phần còn lại, phần trả công cho ai ghi chép tiếng trong."

Ông dừng lại, nhìn quanh một lượt, chờ không ai ngắt lời mới nói tiếp.

"Cháu nghe nói khoản ấy tính theo số buổi các cháu học sinh ngồi lại sau giờ học để anh Nhượng hỏi chuyện, ghi âm. Cháu chỉ hỏi một câu thôi ạ: sang năm bọn nó thi vào cấp ba bằng cái gì ạ? Bằng tiếng trong hay bằng chương trình cháu đang dạy?"

Không ai trả lời ngay. Ông nói tiếp, giọng vẫn đều, không lớn hơn một chút nào so với lúc đầu, chỉ chặt hơn ở từng câu.

"Cháu dạy ở điểm trường này bảy năm. Cháu biết rõ mười một đứa học trò của cháu, đứa nào sức học thế nào, đứa nào phải kèm thêm buổi tối. Bây giờ có người trả tiền để chúng ngồi lại sau giờ học, không phải để ôn bài, mà để nói chuyện với một người lớn về những từ mà chính bố mẹ chúng cũng đang quên dần. Cháu không trách anh Nhượng, anh ấy làm đúng việc của anh ấy. Cháu chỉ xin làng nghĩ kỹ, rằng một buổi chiều của một đứa trẻ mười tuổi tiêu vào việc gì thì sau này nó gặt được đúng cái đó, không hơn."

"Cháu nói vậy không phải để trách ai đã nhận tiền của anh Nhượng trước đây." Ông nói thêm, quay đầu nhẹ về phía bà Rớt một thoáng rồi quay lại nhìn chung cả sân, giọng vẫn giữ đúng mức lễ phép như từ đầu. "Bác Rớt bán một buổi kể chuyện, cháu không có ý kiến gì, đó là việc của bác. Cháu chỉ xin phân biệt rõ, việc một người lớn tự quyết định về vốn liếng của mình, với việc mười một đứa trẻ chưa đủ tuổi tự quyết định gì cả, bị xếp lịch vào việc đó mà không ai hỏi ý chúng. Cháu dạy chữ, cháu không dạy các cháu cách từ chối tiền, vì cháu cũng không biết dạy thế nào cho đúng."

Ông ngồi xuống, cuốn sổ điểm danh vẫn giữ chặt trong tay, không nhìn ai thêm.

Người đàn ông lúc nãy nhắc chuyện đường lún lại lên tiếng, nói thầy Dền lo xa quá, có mấy buổi chiều một tuần thì ảnh hưởng gì, với lại tiền đó cũng là tiền vào nhà, chứ có bắt bọn trẻ bỏ học đâu. Một bà khác góp lời, nói con cháu bà đi làm ăn xa, gửi tiền về chẳng được bao nhiêu, có thêm khoản này thì nhà đỡ phải vay mượn lúc giáp hạt.

Một người đàn bà ngồi gần cửa lớp học, mẹ của một trong mười một đứa học trò thầy Dền dạy, đứng lên tiếp lời thầy, giọng run run vì ít khi nói trước đông người. Bà kể con bà năm nay học yếu môn tính, tối nào cũng phải kèm thêm mới theo kịp, giờ lại thêm mấy buổi chiều ngồi nói chuyện tiếng trong thì bà sợ con càng đuối. Một ông khác gạt đi, bảo bà lo quá xa, chữ nghĩa của làng học thêm không mất gì của ai, chỉ được chứ không mất. Hai bên cãi qua lại thêm vài câu, giọng không ai lớn quá mức, nhưng càng lúc càng khó nhường nhau. Sân đình chia thành hai phía rõ rệt hơn từng câu một, không ai to tiếng, nhưng ai cũng giữ chắc chỗ đứng của mình.

Tôi ngồi ở góc hiên, nghe hết lượt này tới lượt khác, thấy mình không xếp được vào bên nào. Tôi hiểu ý thầy Dền, hiểu quá rõ là khác, vì chính tôi cũng đang ngồi ghi chép tiếng trong của làng để lấy cái bằng của mình, không khác gì cách ông vừa mô tả về Nhượng. Nhưng tôi cũng nhìn thấy cái mái tôn thủng của nhà ai đó, cái xe máy trượt bánh mùa mưa của người vừa nói, và không thể tự cho mình cái quyền đứng lên bảo họ đừng nhận tiền.

Miên ngồi cạnh tôi, im lặng suốt từ đầu, chỉ khi thầy Dền dứt lời mới ghé sát tai tôi, nói nhỏ: "Ông ấy nói đúng đấy. Nhưng đúng thì đúng, tiền vẫn là tiền." Tôi không đáp lại được câu nào.

Cuộc họp kéo dài thêm một lúc, ông trưởng thôn cố gom lại thành một hướng, hẹn sẽ họp tiếp vào cuối tuần sau khi mọi người bàn kỹ hơn trong từng nhà. Người ta bắt đầu đứng dậy, thu ghế, tản ra dần.

Cụ Trạc ngồi suốt buổi ở một góc riêng gần bậc thềm đình, không nói một câu nào từ đầu tới cuối, chỉ ngồi nghe, hai tay đặt trên đầu gậy trúc. Nhiều người liếc về phía cụ mấy lần, chờ cụ lên tiếng, vì trong làng ít ai dám coi thường một câu nói của người giữ tiếng cuối cùng. Cụ vẫn không nói gì, cho tới lúc gần như cả sân đã đứng dậy hết, cụ mới chống gậy đứng lên, chậm, một tay tì vào bậc thềm.

"Tuỳ các người." Cụ nói, không lớn tiếng, nhưng đủ để những người còn nán lại nghe rõ từng chữ. "Tôi giữ, không phải tôi quyết."

Cụ quay lưng, chống gậy bước ra khỏi sân đình, không chờ ai đáp lại, dáng đi chậm nhưng thẳng, khuất dần sau hàng cau trồng dọc lối vào xóm Trên.

Hết Chương 25
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 26 →
← TrướcTiếp →