Nhượng gọi tôi ra sau quán tạp hoá vào một buổi sáng không có việc gì đặc biệt, chỉ nhắn qua bà chủ quán một câu ngắn: có thời gian thì ghé, ông cho xem cái này hay. Tôi tưởng "cái này" là một mục từ mới, hoá ra là một gian buồng nhỏ ông thuê lại phía sau nhà, nơi ông vẫn ngủ mỗi đợt về thung.
Gian buồng chật, kê một cái giường gỗ, một cái bàn xếp, và ba cái thùng gỗ xếp chồng lên nhau sát vách. Nhượng mở cái thùng trên cùng, lấy ra từng cuốn sổ một, đặt lên bàn theo hàng. Có cuốn bìa da đã bong một góc, có cuốn bìa giấy croky ố vàng, gáy chỉ khâu tay lỏng lẻo. Mùi giấy cũ và mùi mối mọt trộn vào nhau, thứ mùi tôi đã ngửi quen ở tủ sách khoa mình, chỉ đậm hơn.
"Tôi không cho ai xem cái này." Ông nói, giọng bình thường như đang kể một việc vặt. "Nhưng cô nên biết tôi làm việc thế nào, vì hai đứa mình rồi sẽ còn gặp nhau nhiều."
Ông lật một cuốn, chỉ vào những cột số kẻ tay, mỗi cột một cái tên tiếng trong, bên cạnh là những vạch đếm nhỏ xếp thành từng nhóm năm. "Đây là bảng tần suất. Mỗi lần nghe ai nói một từ, tôi gạch một vạch, ghi ngày, ghi ai nói, ghi trong hoàn cảnh nào. Mười một năm, tôi có chừng bốn mươi cuốn thế này." Ông vỗ nhẹ lên chồng sổ. "Cô dùng máy ghi âm. Tôi dùng cái này. Hai cách khác nhau, cùng một việc: đo xem cái gì còn sống, cái gì sắp chết."
Tôi cầm một cuốn lên, lật vài trang. Có những cái tên tôi đã ghi trong sổ mình, xếp cạnh những cái tên tôi chưa từng nghe, có lẽ đã rụng từ lâu trước khi tôi tới. Một trang có một vệt mực lem, như tay ai đó đã run khi viết.
Kẹp giữa hai trang là một tấm ảnh đen trắng nhỏ, mép cong queo, chụp sân đình với một hàng người đứng xếp thành ba lớp, mặt ai cũng nghiêm. Nhượng cầm lấy, lật ra sau xem chữ viết tay ghi năm tháng, rồi đưa cho tôi xem mặt trước.
"Cụ Trạc đây này." Ông chỉ vào một người đàn ông trung niên đứng hàng đầu, tóc còn đen. "Chụp năm tôi chưa sinh. Bà chủ quán cho tôi mượn cái này photocopy, ảnh gốc bà giữ." Ông cất tấm ảnh lại đúng chỗ cũ, giữa đúng hai trang đó, cẩn thận như sợ làm lệch một thứ trật tự chỉ mình ông hiểu. "Tôi giữ những thứ như thế này không phải vì thích hoài niệm. Nhìn ảnh cũ, tôi biết ai đứng gần ai, ai quay mặt đi chỗ khác lúc chụp. Cái đó cũng là dữ liệu, chỉ là không đếm được bằng vạch."
"Sao ông không công bố cái này?" Tôi hỏi. "Bốn mươi cuốn sổ tần suất mười một năm, đăng lên tạp chí nào cũng được chú ý."
"Vì nó không phải của tôi để công bố." Ông đáp, không do dự, như câu trả lời đã có sẵn từ lâu. "Nó là của làng. Tôi chỉ giữ hộ, và giữ hộ để bán từng phần cho người cần, không phải để giữ cho riêng mình." Ông ngồi xuống mép giường, tay vẫn đặt lên chồng sổ như đang trấn an nó. "Cô sẽ hiểu dần. Người làm việc này lâu, ai cũng phải chọn một cách sống với cái mình biết."
Tôi ngồi xuống ghế xếp, đặt cuốn sổ lại đúng chỗ cũ trong hàng, cẩn thận không làm xô lệch thứ tự ông vừa bày ra. Ngoài cửa sổ, có tiếng ai đó đang quét sân bằng chổi tre, tiếng sột soạt đều đặn.
"Cô hỏi tôi mấy hôm trước, lúc hai người mình đi từ bến về." Nhượng nói, mắt vẫn nhìn xuống chồng sổ chứ không nhìn tôi. "Rằng trước cô đã có ai vào đây làm đúng cái việc cô đang làm chưa. Tôi trả lời cô là không rõ." Ông ngừng một nhịp, rồi nói tiếp, chậm hơn một chút. "Cô không phải người đầu tiên ngồi đúng chỗ này hỏi tôi câu đó."
Tôi ngẩng lên. Chỗ này, ông nói rõ là chỗ này, cái ghế xếp tôi đang ngồi, cái bàn kê giữa hai đứa.
"Ai?" Tôi hỏi, cố giữ giọng bình thường dù tim đập nhanh hơn hẳn. "Ai hỏi ông câu đó?"
Nhượng cười, một nụ cười ngắn, không có vẻ gì giấu giếm nhưng cũng không có ý định trả lời. Ông đứng dậy, xếp lại chồng sổ cho gọn, cất trở lại thùng gỗ theo đúng thứ tự đã lấy ra, cuốn bìa da xuống trước, cuốn bìa giấy đặt sau.
"Cô biết vì sao tôi ghi tần suất chứ không ghi nghĩa không?" Ông hỏi ngược, đóng nắp thùng lại. "Vì tần suất không nói dối. Một từ được nói ba lần một tuần thì cứ ba lần một tuần, không ai biện hộ được cho con số đó. Nhưng nghĩa thì khác. Nghĩa là thứ người ta tự tin nói ra, và sự tự tin ấy có thể đúng, có thể sai, và trong cả hai trường hợp nó đều nghe y hệt nhau lúc thốt ra."
Tôi hiểu ông đang tránh câu hỏi của tôi bằng một câu chuyên môn, và tôi cũng hiểu là mình sẽ không moi được gì thêm nếu cứ hỏi thẳng. Tôi im lặng một lúc, nhìn ông xếp nốt cái thùng, đẩy nó sát vào vách như cũ.
"Có phải người đó cũng làm nghiên cứu không?" Tôi thử một lần nữa, vòng sang hướng khác.
"Cô hỏi nhiều câu quá rồi đấy." Nhượng nói, giọng vẫn nhẹ, không có chút gắt gỏng nào, chỉ như một lời nhắc đúng lúc. Ông ngồi lại xuống mép giường, tay bắt chéo trên đầu gối. "Để tôi hỏi cô một câu khác, dễ trả lời hơn. Cô ghi âm xong, cô nghe lại mấy lần trước khi chép ra chữ?"
Tôi trả lời, hơi lúng túng vì đổi đề tài đột ngột: hai lần, có khi ba nếu chỗ nào nghe không rõ. Ông gật, nói việc đó là đúng cách, rồi bắt đầu kể về một lần ông thu âm một cụ già ở xóm Đồi mười năm trước, thu đi thu lại bốn buổi mới ra được đúng âm một từ, vì cụ nói ngọng nhẹ do rụng răng, và cách ông phải học nghe qua cái ngọng đó để không chép sai. Câu chuyện dài, chi tiết, đúng chất chuyên môn của ông, và tôi nghe, ghi vài ý vào sổ. Ở lề trang, chỗ còn trống, tôi viết nhỏ câu hỏi ban nãy, khoanh tròn lại rồi để nguyên đó, không trả lời, chuyển sang ghi tiếp chuyện ông đang kể.
Chúng tôi ngồi thêm chừng nửa tiếng, nói về cách phân biệt âm cổ với âm bị nói trại do răng yếu, về việc nên hỏi người già vào buổi sáng hay buổi chiều thì họ nhớ rõ hơn. Nhượng nói nhiều, tôi hỏi ít, chủ yếu nghe, thỉnh thoảng ghi một dòng vào sổ tay khi ông nhắc tới một mẹo tôi chưa nghĩ ra: đặt máy ghi âm lên một cái khăn gấp thay vì đặt thẳng lên mặt bàn gỗ, để tránh tiếng rung khi ai đó gõ tay lên bàn lúc nói chuyện.
Bà chủ quán gọi vọng vào, hỏi hai người có ăn trưa không, bà vừa luộc mớ rau lang. Nhượng từ chối, nói còn phải soạn lại vài cuốn sổ trước khi trời tắt nắng, ánh sáng buổi chiều trong buồng yếu, ông không đọc được chữ viết tay nhỏ. Tôi đứng dậy xin về, hẹn bà chủ quán hôm khác quay lại ăn cơm cùng. Nhượng tiễn ra tận cửa quán, đứng khoanh tay nhìn tôi dắt xe.
"Cách cô ghi chép hôm nay, tôi thấy được." Ông nói, giọng có chút gì đó gần với sự thật lòng hơn mọi câu khen trước đó. "Cô không chỉ chép chữ, cô còn chép cả cách người ta ngừng lại trước khi nói, cách họ đổi giọng. Ít người mới vào nghề để ý được cái đó."
Tôi cảm ơn, dắt xe ra khỏi sân, một tay giữ ghi đông, một tay chỉnh lại quai túi vải trên vai. Nhượng đứng nguyên chỗ cũ, nhìn theo, rồi nói thêm một câu, nhẹ như một cơn gió lướt qua, gần như không định để tôi nghe rõ.
"Chỉ cần cẩn thận thôi. Cô giỏi hơn hầu hết những người tôi từng gặp ở đây."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 25 →