Quán tạp hoá gần đình chỉ có một cái bàn nhựa kê ngoài hiên, hai cái ghế con, và bà chủ quán ngồi trong nhặt rau, thỉnh thoảng ngó ra xem có khách. Tôi tới mua thêm pin cho máy ghi âm thì gặp Nhượng đang ngồi sẵn ở đó, một chai nước trà xanh đóng chai để trước mặt, chưa mở nắp, cuốn sổ da hôm trước đặt gọn bên cạnh, dây thun vẫn cài chặt như chưa hề mở ra từ lúc rời sân đình.
"Ngồi đây một lát không?" Ông hỏi, đẩy cái ghế con còn lại ra, không đợi tôi trả lời đã quay vào trong gọi thêm một chai nước nữa.
Tôi ngồi xuống, đặt túi vải xuống chân, cạnh gói pin vừa mua còn nguyên trong túi ni lông mỏng. Nắng giữa trưa hắt qua mái tôn thấp, nóng nhưng chưa gắt, mùi bồ kết từ đâu đó thoảng qua theo gió. Bà chủ quán bưng ra hai chai nước, đặt cạch xuống bàn nhựa, không hỏi han gì thêm, quay vào lại với rổ rau đang nhặt dở.
"Sáng nay em định hỏi thêm mà anh vội quá." Tôi nói, mở đầu luôn, không vòng vo. "Anh làm nghề gì mà tới thung Nác thường vậy ạ?"
Nhượng vặn nắp chai nước bà chủ quán vừa mang ra, rót ra hai cái cốc nhựa, đẩy một cốc về phía tôi trước khi trả lời.
"Tôi làm tư vấn di sản phi vật thể, tự do, không thuộc cơ quan nào cả." Ông nói, giọng đều, như đang đọc một dòng giới thiệu đã lặp lại nhiều lần. "Trước kia có làm hợp đồng với vài viện, giờ chủ yếu nhận việc riêng, viết báo cáo cho các dự án bảo tồn, đôi khi tư vấn cho doanh nghiệp muốn làm gì đó liên quan tới vùng dân tộc thiểu số hoặc phương ngữ hiếm."
"Anh tới thung Nác từ bao giờ ạ?"
"Mười một năm." Ông đáp, không cần tính nhẩm, như con số đó đã nằm sẵn ở đầu lưỡi từ lâu. "Lần đầu tôi tới đây là để làm một báo cáo nhỏ về phương ngữ vùng núi đá vôi phía tây tỉnh, hợp đồng ba tháng. Xong việc rồi vẫn quay lại, năm nào cũng ghé vài lần, có năm ở lâu hơn."
Tôi nhẩm tính trong đầu, mười một năm, so với bốn tuần của mình, thấy khoảng cách đó lớn tới mức khó hình dung cho trọn vẹn.
"Anh nói được bao nhiêu từ tiếng trong rồi ạ?" Tôi hỏi, câu hỏi bật ra gần như tự động, kiểu câu một người làm nghiên cứu luôn muốn biết trước tiên.
"Tôi không đếm chính xác, nhưng chắc chừng ba trăm." Ông nói, uống một ngụm nước, đặt cốc xuống bàn thẳng thớm. "Có thể hơn, vì có những từ tôi hiểu nghĩa mà không dùng chủ động bao giờ. Cô thì sao, ghi được bao nhiêu rồi?"
"Em chưa đếm kỹ, nhưng chắc khoảng ba trăm bốn mươi mục trong sổ tay." Tôi đáp, hơi ngại khi thấy con số của mình nhỉnh hơn con số ông vừa nói, dù biết hai con số đó không đo cùng một thứ. "Nhưng đó là ghi lại, không phải nói được. Khác nhau xa."
Nhượng gật đầu chậm, nhìn tôi một lúc, ánh mắt không có gì gay gắt, chỉ như đang cân nhắc một điều trước khi nói ra.
"Cô ghi được 340 mục trong bốn tuần. Tôi mất bốn năm mới được ngần ấy. Cô giỏi hơn tôi, và đó chính là chỗ tôi lo." Ông nói, từng chữ rõ ràng, không vội.
Tôi bật cười nhẹ, tưởng ông đang khiêm tốn kiểu người lớn hay nói với người trẻ.
"Anh nói quá lời rồi ạ. Em chỉ ghi chép thôi, còn xa mới bằng anh."
Ông không cười theo, chỉ nhìn tôi thêm một lúc rồi quay sang chuyện khác, hỏi tôi ở thung được sắp xếp chỗ ăn ở thế nào, có quen với đồ ăn ở đây chưa, có bị ốm vặt gì không trong mấy tuần đầu. Tôi trả lời từng câu, thấy cách ông hỏi thật lòng, không phải kiểu hỏi han xã giao cho có. Ông kể thêm vài chuyện về những lần ông ở đây lâu hơn, có mùa mưa lớn phải ở lại quá nửa tháng vì đường ra dốc Nghẹo bị sạt, có lần bị sốt rét nhẹ phải nhờ người làng cõng ra tận Hồi Xuân. Giọng ông kể không có gì cường điệu, chỉ kể như kể việc đã qua, nhẹ nhàng, đôi lúc còn tự giễu mình vụng về lúc mới tới.
Tôi hỏi ông ghi chép thế nào, có giữ sổ như cuốn tôi thấy hôm trước không. Ông lật cuốn sổ da ra cho tôi xem qua vài trang, không ngại giấu, chỉ vào một cột số nhỏ viết ở lề mỗi trang.
"Tôi hay ghi thêm ngày tháng và tần suất, mỗi lần nghe ai dùng một từ thì đánh dấu lại." Ông nói, ngón tay lướt qua những cột số chi chít. "Làm lâu năm quen tay, giờ thành phản xạ, nghe ai nói gì cũng tự động đếm trong đầu trước khi kịp nghĩ tới nghĩa."
"Để làm gì ạ, đếm tần suất ấy?" Tôi hỏi, tò mò thật, chưa từng nghĩ tới việc ghi số lần một từ được dùng.
"Để biết từ nào đang mất dần, từ nào vẫn còn sống khoẻ." Ông đáp, gấp sổ lại. "Nhìn con số qua nhiều năm, cô sẽ thấy rõ hơn nhìn bằng tai. Tai người hay lừa mình, tưởng cái gì quen thì tưởng nó còn nguyên, nhưng số thì không biết nói dối."
Tôi gật, cất câu đó vào đầu như một mẹo nghề mới học được, dù chưa hình dung nổi mình sẽ đếm kiểu đó ra sao với chỉ bốn tuần ghi chép ít ỏi.
Chúng tôi ngồi tới gần một tiếng, nắng đã dịu bớt. Tôi đứng dậy trước, nói phải về kịp giờ cơm bà Rớt dặn, Nhượng cũng đứng lên, trả tiền nước cho cả hai dù tôi có ý giành lại.
"Để tôi, hôm nào cô mời lại tôi ăn cơm nhà bà Rớt là được." Ông nói, cười, khoác ba lô lên vai.
Chúng tôi cùng đi về hướng xóm Bến, đường qua một khúc rẽ có bãi cỏ thấp mọc dày hai bên, thỉnh thoảng có con châu chấu bật lên từ dưới chân rồi rơi lại vào cỏ. Nhượng đi chậm hơn tôi tưởng, thỉnh thoảng dừng lại nhìn một khóm cây ven đường, gọi tên nó bằng tiếng trong, âm sắc chuẩn tới mức tôi phải nhẩm lại trong đầu mới nhớ nổi cách phát âm. Ra tới bến, nơi khe Mọ mở rộng thành một quãng nước lặng, mấy bậc đá xếp sẵn để người làng ra giặt đồ, mặt nước phẳng lặng phản chiếu mảng trời trắng đục giữa trưa. Từ xa tôi đã thấy một bóng người quen, đứng một mình ở mép nước, không giặt gì, chỉ đứng nhìn ra giữa dòng, môi khẽ mấp máy như đang nói chuyện với ai đó không có mặt ở đó.
Bà Rớt.
Tôi không lạ gì cảnh này, đã thấy đôi lần trước, lần nào cũng lặng lẽ đi qua không hỏi. Nhưng lần này có Nhượng đi cùng, và tôi liếc sang xem ông có phản ứng gì không.
Ông khựng bước lại, chỉ một nhịp rất ngắn, gần như không đáng để gọi là dừng, nhưng đủ để tôi nhận ra. Mắt ông nhìn về phía bến, về phía bóng bà Rớt đứng đó, môi mím lại, một biểu cảm thoáng qua rồi biến mất ngay, nhanh tới mức nếu tôi không đang để ý thì đã bỏ lỡ.
"Bà Rớt hay ra bến giờ này lắm nhỉ." Tôi nói, cố hỏi thăm dò, không chắc mình muốn nghe câu trả lời nào.
Nhượng quay sang tôi, nụ cười trở lại như chưa từng có gì xảy ra, tay chỉnh lại quai ba lô trên vai.
"Bà ấy hay ra đấy." Ông nói, giọng nhẹ hẳn đi, rồi bước tiếp, đổi hẳn sang chuyện khác, hỏi tôi tối nay có định ghé nhà cụ Trạc hỏi thêm chữ nào trong sổ không.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 23 →