Tối, tôi tới nhà ông Lịnh một mình, không rủ Miên như mọi lần. Đường sang nhà ông vòng qua mấy vườn chuối, tối om, tôi phải bật đèn pin điện thoại soi từng bước, tay kia xách theo túi cam vừa mua ở quán tạp hoá làm quà, cam nhỏ, vỏ còn dính bụi đất đỏ.

Đèn trong nhà bật sáng vàng, hắt qua khung cửa gỗ ra tận sân, tiếng radio cũ phát chương trình cải lương văng vẳng, âm thanh hơi rè ở mấy nốt cao.

Ông Lịnh đang ngồi trên phản, một tay cầm quạt nan phe phẩy, thấy tôi tới thì tắt luôn radio, cười toe. "Cô Hoài, hôm nay không có Miên dẫn đường à? Giỏi thật, tự nhớ đường tới nhà lão già này."

"Con thuộc đường rồi ạ." Tôi cười theo, bước lên hiên, ngồi xuống cái ghế mây ông vẫn dành sẵn cho khách.

"Uống nước vối không, tôi mới pha ấm mới." Ông rót ra hai cái chén sành, đẩy một chén về phía tôi, không đợi tôi gật đầu.

Tôi đưa túi cam ra. "Con mua ít cam biếu ông ạ, thấy quán có cam Cao Phong mới về."

"Ôi giời, cô bày vẽ." Ông Lịnh đón lấy túi cam, lật qua lật lại xem, giọng vẫn đùa. "Cam này chắc lại dán mác Cao Phong chứ trồng ở đâu chả biết, bà bán hàng ngoài kia lừa cô đấy. Nhưng thôi, cứ ăn đã, lừa hay không cũng ngọt."

Tôi bật cười, không khí giãn ra hẳn so với lúc mới bước vào sân, lòng vẫn còn hơi hồi hộp vì câu hỏi định hỏi.

Tôi cầm chén nước, hơi nóng bốc lên làm ấm cả hai bàn tay. Tôi im một lúc, nghe tiếng côn trùng ngoài vườn, cố tìm cách mở lời cho câu hỏi mình định hỏi từ lâu, từ cái buổi đầu tiên ông tiễn tôi ra cổng và nói đùa một câu tôi chưa bao giờ quên.

"Ông ơi." Tôi nói, giọng cố giữ bình thường. "Hôm con mới gặp ông, ông có nói một câu, bảo mai mốt con biết nghề của ông thì đừng ghét ông. Con nhớ mãi câu đó. Ông làm nghề gì vậy ạ?"

Ông Lịnh ngừng quạt, nhìn tôi một lúc, không phải cái nhìn giật mình, mà giống như đang cân nhắc xem hôm nay có phải ngày để nói chuyện này không. Rồi ông cười, nhưng nụ cười lần này chậm hơn mọi lần, không bật ra ngay như thường lệ.

"Cô hỏi đúng lúc đấy." Ông nói, đặt cái quạt xuống phản. "Tôi cứ chờ xem cô có tự hỏi không, hay để cô tự đoán ra."

"Con đoán không ra ạ." Tôi nói thật. "Con chỉ biết cụ Trạc giữ tiếng, bà Rớt giữ mấy chuyện trong nhà, còn ông thì..."

"Còn tôi thì bỏ." Ông Lịnh nói, gọn, không vòng vo. "Tôi là người bỏ tiếng, cô Hoài ạ. Nghề của tôi ngược hẳn nghề cô đang làm."

Tôi ngồi im, chưa hiểu hết nghĩa của câu đó. "Bỏ tiếng là... ông làm cho người ta quên một chữ nào đó ạ?"

"Đúng thế." Ông gật, tay cầm chén nước vối lên, uống một ngụm, chậm rãi, như đang cho tôi thời gian để hết bất ngờ. "Cha tôi làm nghề này, ông tôi làm nghề này, ngược lên mấy đời nữa tôi cũng không rõ. Có những chữ trong sổ, cái nó gọi tên là cái không nên có mặt trên đời. Việc của tôi là làm sao cho chữ đó bị quên hẳn, quên sạch, không còn ai nhắc, không còn ai nhớ nghĩa."

"Nhưng..." Tôi đặt chén nước xuống, người hơi nghiêng về phía trước. "Con tưởng công việc của làng mình là giữ, chứ không phải bỏ."

"Giữ hết thì cũng chết đấy cô ạ." Ông Lịnh nói, giọng vẫn nhẹ, nhưng có gì đó chắc nịch ở dưới. "Có chữ giữ được thì tốt. Có chữ giữ mà hại hơn bỏ."

Tôi ngồi im, cố hình dung một từ như thế trông ra sao, một cái tên mà giữ lại còn nguy hiểm hơn để nó biến mất. Suốt mấy tuần ở thung Nác, tôi luôn nghĩ việc mình làm, việc của cụ Trạc, việc của cả làng, là chạy đua với thời gian để cứu càng nhiều càng tốt, không sót một chữ nào. Chưa bao giờ tôi nghĩ có ai trong làng lại đang làm ngược lại, một cách công khai, và không ai coi đó là tội.

"Ông đã từng làm chuyện đó chưa ạ? Bỏ một chữ đi rồi ấy." Tôi hỏi, giọng nhỏ hẳn.

Ông Lịnh im một lúc, cầm cái quạt nan lên, quạt chậm vài cái, không nhìn thẳng vào tôi nữa mà nhìn ra khoảng sân tối, chỗ có mấy con đom đóm lập loè gần bụi chuối.

"Rồi." Ông nói, chỉ một tiếng. "Một lần. Lâu lắm rồi. Tôi không kể chi tiết cho cô đâu, không phải giấu cô, mà vì kể ra cũng chẳng ích gì cho cô, chỉ nặng thêm đầu cô thôi."

Tôi không ép hỏi thêm, dù trong bụng có hàng chục câu hỏi đang chực bật ra. Có gì đó trong cách ông nói khiến tôi hiểu, đây không phải chỗ để tôi tò mò cho bằng được.

"Con chỉ không hiểu," tôi nói, "sao lại có chuyện phải bỏ một cái tên đi. Con nghĩ, biết được nghĩa của cái gì cũng là biết thêm, cũng tốt hơn không biết."

Ông Lịnh nhìn tôi, lần này ánh mắt có gì đó vừa buồn cười vừa nghiêm, một sự kết hợp tôi chỉ thấy ở ông. Ông đặt chén nước xuống, gõ nhẹ hai ngón tay lên mặt phản, rồi nói, chậm, từng chữ một, như đọc một câu ông đã nói rất nhiều lần trong đời, với rất nhiều người, và lần nào cũng để lại một khoảng lặng sau đó.

"Không phải cái gì cũng nên có tên."

Câu đó rơi vào giữa tiếng côn trùng ngoài vườn, giữa ánh đèn vàng hắt trên phản gỗ, nghe nhẹ như một câu đùa nhưng đọng lại trong tôi nặng hơn bất cứ lời giải thích dài dòng nào. Tôi ngồi lặng, nhớ lại toàn bộ những gì tôi vẫn tin, cái niềm tin đưa tôi tới tận thung Nác này: cái gì cũng có thể gọi đúng tên, và gọi đúng tên tức là cứu được nó khỏi mất đi. Đây là lần đầu tiên tôi ngồi trước một người tin điều ngược lại, tin chắc như tôi tin điều của mình, và người đó không hề có vẻ độc ác hay lạnh lùng, chỉ ngồi đó quạt phe phẩy như đang bàn chuyện thời tiết.

"Ông không sợ mình sai à?" Tôi hỏi, giọng khẽ.

"Sợ chứ." Ông Lịnh đáp ngay, không chút do dự. "Nhưng cô Hoài này, giữ cũng có lúc sai, bỏ cũng có lúc sai. Không ai được miễn cái phần sợ đó cả, kể cả cô."

"Vậy sao ông chọn nghề này ạ? Nếu sợ như nhau, sao không đi giữ, đỡ mang tiếng." Tôi hỏi, thật lòng tò mò chứ không có ý vặn vẹo.

"Vì có người phải làm chứ." Ông cười, gõ ngón tay lên thành chén. "Làng nào cũng cần một người dọn cái không nên để lại. Cô tưởng nhà nào cũng thích cái nghề tôi làm chắc. Cha tôi bảo, thà một mình tôi mang tiếng, còn hơn để cả làng phải sống chung với cái đáng ra không nên có mặt."

Tôi im, không cãi được câu đó, dù trong bụng chưa hẳn đã phục.

Ông Lịnh bỗng cười, tiếng cười hơi khẽ, nhìn xuống chén nước của mình. "Có một chữ trong sổ mà tôi mong cả đời không phải đụng tới." Ông nói, giọng vẫn như đùa, nhẹ tênh. "Cầu trời tôi chết trước khi ai đó lôi nó ra."

Tôi định hỏi chữ gì, nhưng ông đã xua tay, cười to hơn, đổi hẳn giọng sang vui vẻ như chưa từng nói câu vừa rồi.

"Thôi, chuyện của lão già, cô hỏi làm gì cho nặng đầu." Ông với tay lấy ấm nước vối, rót thêm vào chén tôi dù chén vẫn còn gần đầy. "Cô uống thêm đi, nước vối này tôi hãm đặc, uống vào ngủ ngon lắm. Mai cô lại phải dậy sớm đi ghi chép chứ gì."

Tôi cầm chén nước, nhìn ông cười nói tiếp mấy chuyện vặt trong làng, giọng trở lại y hệt cái ông Lịnh vui tính tôi quen từ buổi đầu, như câu vừa thốt ra lúc nãy chưa từng tồn tại.

Hết Chương 19
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 20 →
← TrướcTiếp →