Chiều muộn, sân đình đông hơn ngày thường vì hôm nay có xe tải chở phân bón ghé qua, mấy nhà góp tiền mua chung để đỡ cước. Người ta đứng thành từng cụm chờ tới lượt cân, nói chuyện rôm rả trong lúc chờ, tiếng cười xen với tiếng bao tải kéo lê trên nền xi măng.
Tôi mang sổ tay ra ngồi ở bậc thềm đình, không định phỏng vấn ai, chỉ định nghe. Từ hôm cụ Trạc nói chuyện với tôi dưới gốc mít, tôi bắt đầu chú ý một điều mình chưa từng để tâm suốt mười tám ngày qua: người ta dùng bao nhiêu tiếng trong trong một câu chuyện bình thường, và ai dùng nhiều hơn ai.
Ông Tuất, ngoài bảy mươi, đứng cạnh xe phân bón, mặc cả giá cước với người lái xe bằng tiếng phổ thông thuần, không chêm một từ nào lạ tai. Bà Hoạch, kém ông chừng chục tuổi, đứng cách đó vài bước, kể chuyện con lợn nhà mình ốm, câu nào cũng có một hai từ tiếng trong lẫn vào tự nhiên, kiểu "nó cứ nằm lử lử, chả buồn ăn buồn nhá gì". Hai đứa trẻ chạy quanh chân người lớn, gọi nhau bằng đúng tên tiếng phổ thông cả bọn học ở trường.
Tôi ghi lại vài câu vào sổ, không phải để phân tích ngữ âm như mọi lần, mà để đếm. Đếm xong tôi nhận ra mình không có cách nào biết được, chỉ nghe qua vài câu chuyện phiếm, ai đang giữ bao nhiêu từ trong đầu và ai đã quên gần hết. Số từ dùng ra không bằng số từ còn nhớ. Có khi người ta nhớ mà không có dịp nói.
Tôi lật sang trang khác, thử ghi tên từng người đang đứng quanh xe phân bón, kèm vài từ tiếng trong tôi vừa nghe được từ miệng họ. Danh sách ngắn dần theo tuổi. Hai đứa trẻ, không có gì để ghi. Bà Hoạch, bốn từ trong nửa tiếng đồng hồ. Ông Tuất, không có từ nào cả buổi, dù ông là người nói nhiều nhất. Tôi gạch dưới tên ông Tuất, tự hỏi có phải ông không còn giữ được bao nhiêu, hay chỉ đơn giản là chuyện mặc cả giá cước không cần tới tiếng trong.
Cụ Trạc đi ngang, tay chống gậy trúc, không góp vào việc cân phân bón, chỉ đứng nhìn từ xa như mọi bận. Tôi đứng dậy, bước lại gần.
"Cụ ơi, con hỏi cái này được không ạ."
Cụ gật, không nói gì, chờ tôi hỏi tiếp.
"Một người bình thường, như bà Hoạch, như ông Tuất, giữ được bao nhiêu từ tiếng trong ạ? Con muốn biết con số, không phải áng chừng."
Cụ Trạc nhìn tôi một lúc, như cân nhắc có nên trả lời thẳng không. "Ba mươi." Cụ nói. "Chừng ấy thôi. Nhiều hơn thì rơi bớt, không giữ nổi."
Tôi khựng lại, viết vội con số vào sổ, gạch chân hai lần. "Ba mươi thôi ạ? Ít vậy sao?"
"Ít với cô thì ít." Cụ nói, giọng không có ý trách. "Với người chỉ cần nói chuyện hằng ngày thì đủ. Ba mươi từ, người ta sống cả đời với làng, không thiếu gì."
"Vậy cụ giữ được bao nhiêu ạ?" Tôi hỏi, gần như buột miệng, rồi thấy câu hỏi hơi đường đột nên định rút lại. Nhưng cụ đã trả lời trước khi tôi kịp nói thêm gì.
"Gần bốn trăm."
Tôi đứng sững, tay cầm bút ngừng hẳn giữa chừng. Bốn trăm, so với ba mươi của người thường, là một con số tôi không hình dung nổi bằng cách nào một cái đầu người chứa nổi. "Bốn trăm ạ? Gấp mười ba lần người thường?"
"Tôi không tính gấp bao nhiêu lần." Cụ nói, hơi nhếch mép, gần như cười nhưng không hẳn. "Tôi chỉ biết là nhiều."
Tôi nhìn cụ, cố hình dung cái đầu chứa bốn trăm từ ấy trông như thế nào, có nặng hơn đầu người khác không, có phải lúc nào cũng như đang gánh một cái gì đó trên vai. "Sao cụ giữ được nhiều vậy ạ? Người khác chỉ ba mươi, cụ tới bốn trăm, cụ có cách gì khác không?"
Cụ Trạc im một lúc, mắt nhìn ra chỗ xe phân bón, chỗ hai người đàn ông đang khiêng một bao nặng lên cân, tiếng bàn cân kêu cót két.
"Tôi chép." Cụ nói, ngắn gọn.
"Chép ạ? Nghĩa là..."
"Nghĩa là tôi giữ được âm, giữ được cách đọc, giữ được lúc nào dùng, với ai dùng." Cụ nói, mắt vẫn không quay lại nhìn tôi. "Chép là chép. Không thêm không bớt."
Tôi định hỏi thêm, nhưng cụ đã quay đi, bước về phía xe phân bón, dừng lại chỗ ông Tuất, nói với ông một câu gì đó bằng tiếng trong, giọng bình thường như không vừa nói với tôi một điều lớn. Tôi đứng lại ở bậc thềm, câu "tôi chép" nằm lại trong đầu, cứ lặp đi lặp lại như một cái gì chưa hết ý.
Chép khác hiểu. Tôi biết rõ điều đó vì chính công việc của tôi là phân biệt hai thứ ấy mỗi ngày, giữa bản ghi âm và bản dịch nghĩa. Nhưng tôi chưa từng nghĩ người giữ tiếng của cả làng, người mọi người coi là kho báu sống, lại có thể là người chỉ chép mà không hiểu hết. Tôi muốn hỏi thêm cụ chép mà không hiểu thì bao nhiêu phần trong bốn trăm từ ấy, nhưng cụ đã đi khuất sau đám đông quanh xe phân bón, dáng lưng còng khuất dần giữa những bao tải xếp chồng.
Miên tới, tay cầm hai que kem mua vội ở quán tạp hoá, đưa cho tôi một que. "Chị ngồi đây làm gì, không ra xem cân phân bón à? Vui lắm, ông Tuất với bác lái xe cãi nhau giá cước từ nãy."
"Chị đang nói chuyện với cụ Trạc." Tôi cầm que kem, chưa ăn ngay.
"Nói gì mà mặt chị đơ vậy?" Miên hỏi, ngồi thụp xuống cạnh tôi.
"Hỏi cụ giữ được bao nhiêu từ." Tôi nói. "Cụ bảo gần bốn trăm. Người thường thì ba mươi thôi."
Miên gật, không có vẻ ngạc nhiên như tôi mong đợi. "Ừ, ai cũng biết cụ Trạc là kho mà. Bà em bảo hồi xưa làng có mấy người gần bằng cụ, giờ chết hết rồi, còn mỗi cụ."
"Vậy còn em?" Tôi hỏi. "Em giữ được bao nhiêu?"
Miên nhún vai, cắn một miếng kem. "Em không biết. Chắc ít lắm, em toàn nói tiếng lóng với mấy đứa trên thị trấn, tiếng mình dùng có mấy từ thôi. Nhưng bà em bảo em còn nhiều chỗ trống, vì em ít dùng, chưa đầy."
Câu đó của Miên nằm lại trong tôi lâu hơn cả câu của cụ Trạc. Tôi cầm que kem đang tan chảy xuống mấy ngón tay, nhìn ra sân đình, nhìn ông Tuất vẫn đang cãi giá với người lái xe, nhìn bà Hoạch cười phá lên với câu chuyện con lợn ốm của mình. Mỗi người ở đó đang mang theo một con số tôi không thấy được, không đo được, chỉ có thể đoán qua cách họ nói chuyện, và ngay cả cách đoán đó cũng chưa chắc đúng.
Tôi nghĩ tới chính mình. Ba mươi từ, nếu tôi cũng chỉ có ngần ấy chỗ như người thường trong làng, thì tôi đã dùng bao nhiêu vào đâu. Tiếng trong tôi học được hai tuần rưỡi nay, cộng thêm cả một đời sống bằng tiếng phổ thông trước đó, cộng thêm tên người, tên môn học, tên bài báo khoa học tôi thuộc lòng để bảo vệ luận án. Tôi không có cách nào ngồi đếm ra một con số cụ thể cho riêng mình, không giống cách cụ Trạc trả lời tôi ngay lập tức, không do dự.
Tôi ăn hết que kem lúc nào không hay, chỉ còn lại cái que gỗ dính chút vị ngọt trong tay. Sân đình vẫn ồn ào tiếng người, tiếng bao tải kéo, tiếng bàn cân. Tôi đứng dậy, vứt que kem vào bụi cây cạnh bậc thềm, rồi đi về phía đám đông quanh xe phân bón, chỗ ông Tuất vẫn đang mặc cả giá cước chưa xong.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 18 →