Mười giờ sáng, thằng bé con chú Thức đứng ngoài cổng nhà bà Rớt gọi vọng vào, không dám bước chân qua bậc tam cấp. "Cô Hoài ơi, cụ Trạc bảo cô sang. Cụ bảo sang ngay bây giờ ạ."
Tôi đang ngồi lau ống kính máy ảnh trên hiên, tay còn dính một vệt dầu máy. Hai ngày nay bà Rớt vẫn nấu cơm cho tôi đúng giờ, vẫn dọn phần ăn đầy đủ, chỉ là không hỏi chuyện gì ngoài "ăn được không" và "no chưa". Tôi cũng không dám hỏi lại câu hôm trước. Cả hai coi như chưa ai nợ ai một câu trả lời.
"Cụ Trạc gọi tôi?" Tôi hỏi lại, ngón tay ngừng lau.
Thằng bé gật, quay người chạy đi luôn, không đợi tôi hỏi thêm gì. Nó biến mất sau khúc quanh, để lại tôi ngồi với cái ống kính còn ướt dầu và một câu hỏi không có ai trả lời hộ.
Trong mười tám ngày ở thung Nác, tôi chưa từng được cụ Trạc chủ động gọi. Mọi lần gặp đều do tôi tới gõ cửa, xin phép, đợi cụ rảnh. Lần này ngược lại. Tôi cất máy ảnh vào túi, không đổi áo, đi thẳng sang nhà cụ.
Cụ ngồi trên cái ghế đẩu kê ngoài sân, dưới bóng cây mít còi cọc trồng sát giếng. Trên tay cụ không có ấm nước, không có điếu thuốc lào như mọi bận. Chỉ có hai bàn tay đặt lên đầu gối, các ngón khép lại với nhau, như đang chờ sẵn một việc.
"Cô ngồi." Cụ chỉ cái ghế đối diện, một cái đôn gỗ thấp hơn hẳn ghế cụ đang ngồi.
Tôi ngồi xuống, lưng thẳng, không biết bắt đầu bằng câu gì nên im.
"Cái khươm." Cụ nói, không phải hỏi. "Hôm nay là ngày thứ mấy rồi."
Tôi lục lại trong đầu. "Dạ, con nói ra hôm mười bốn. Hôm nay là mười tám. Bốn ngày ạ."
"Bốn ngày cô có nhắc lại nó với ai không."
Tôi cố nhớ. Hôm mười lăm tôi có kể cho Miên, hôm mười sáu kể cho bà Rớt, còn hôm qua và hôm kia, tôi bận ghi chép chuyện khác, không nhắc tới khươm với ai, kể cả trong đầu. "Dạ... hôm qua với hôm kia thì con không ạ."
Cụ Trạc không trả lời ngay. Cụ nhìn ra khoảng sân, chỗ có một vệt nắng vừa lọt qua tán mít, di chuyển chậm trên nền đất nện. Một lúc sau cụ mới nói, giọng không lớn nhưng từng chữ rơi thẳng, không có chỗ để tôi ngắt lời.
"Cô tưởng cô đặt được một chữ là xong việc." Cụ nói. "Cô tưởng nó giống như cô viết vào sổ, viết xong rồi để đó, lúc nào cần lật ra đọc lại. Không phải vậy."
"Dạ, con..." Tôi định nói gì đó nhưng cụ đưa tay lên, ý bảo để cụ nói hết.
"Một chữ mới đặt, phải có miệng nhắc nó, ba ngày một lần. Không phải nhắc cho vui, không phải nhắc để nhớ. Không nhắc, nó nhạt. Nhạt là mất trước cái đẹp nhất của nó, rồi mất luôn cả cái xấu, cuối cùng mất sạch, như chưa từng có."
Tôi ngồi im, hai tay nắm chặt lấy nhau trên đầu gối. Trong đầu tôi hiện lên câu hỏi của bà Rớt hai đêm trước, câu tôi không hiểu và không dám hỏi lại: rồi cô định nuôi nó bằng gì. Bây giờ tôi hiểu. Nuôi không phải ẩn dụ. Nuôi là việc thật, có hạn, có deadline, giống như cho một đứa trẻ ăn đúng bữa.
"Bốn ngày rồi cô mới nhắc lại nó có hai lần, cho hai người." Cụ Trạc tiếp, giọng vẫn đều, gần như trách nhưng không lớn tiếng. "Cô nghĩ hai lần đủ chưa."
"Con không biết ạ." Tôi trả lời thật, giọng nhỏ hẳn.
"Không biết thì đi mà hỏi trước khi làm." Cụ nói, lần đầu tiên trong buổi có chút gắt. "Cô đọc một chữ trống ra thành tiếng, cô tưởng cô chỉ đang ghi chép. Cô không phải đang ghi chép. Cô đang nhận một cái, và cái đó cần cô nuôi, mỗi ba ngày, không phải một lần rồi thôi."
Tôi nhìn xuống hai bàn tay mình, nghĩ tới cái đêm ở phòng trọ, lúc tôi đọc thầm rồi nói thành lời câu về mùi đá ướt. Lúc đó tôi chỉ nghĩ mình đang thử một điều gì hay ho, một khám phá đáng ghi vào luận án. Không ai nói cho tôi biết sau đó còn có một việc phải làm tiếp, kéo dài không biết đến bao giờ.
"Vậy nếu con quên thì sao ạ." Tôi hỏi, cố giữ giọng bình thường nhưng câu nói ra nghe run hơn tôi muốn.
"Thì nó nhạt trước tiên là cái mùi." Cụ Trạc nói, mắt vẫn nhìn ra sân. "Rồi tới màu. Rồi tới cái cảm giác lúc trời sắp mưa mà cô hay tả trong đầu cô ấy. Cuối cùng chỉ còn lại cái tên, trống không, như chưa từng gắn với cái gì. Lúc đó chữ khươm vẫn còn trong miệng người ta, nhưng người ta gọi một cái không có gì để gọi."
Tôi hình dung cảnh đó, một từ trơ trọi, bị bỏ đói tới rỗng ruột. Bụng tôi thắt lại, một cảm giác lạ, không giống sợ hãi thông thường. Giống hơn cảm giác lúc nhận ra mình vừa ký một tờ giấy mà không đọc kỹ điều khoản.
"Con phải làm gì để nuôi nó ạ." Tôi hỏi, cúi người về phía trước một chút.
"Nhắc nó. Nói ra. Cho người khác nghe cùng, càng nhiều miệng biết nghĩa của nó càng chắc." Cụ Trạc trả lời gọn, như đọc lại một điều đã nói cả trăm lần cho người khác, dù tôi biết cụ chưa từng phải nói câu này với ai từ rất lâu rồi. "Ba ngày một lần, không hơn không kém."
"Mãi mãi ạ?" Tôi hỏi, giọng khẽ hẳn.
"Cho tới khi nó bén rễ." Cụ nói. "Bao lâu thì bén rễ, không ai nói chắc được. Chữ nguyên từ đời ông Trổ thì không cần nuôi nữa, chúng đã ăn rễ hết rồi. Chữ mới đặt thì chưa biết."
Ngoài ngõ có tiếng dép loẹt quẹt. Bà cụ Thìn, hàng xóm sát vách, xách một rổ rau muống đi ngang, ghé mắt nhìn vào sân qua khe cổng gỗ thưa. Cụ Trạc gọi với ra, giọng đổi hẳn, nhẹ hơn hẳn lúc nói với tôi.
"Bà Thìn, hôm nay trời có khươm không."
Bà cụ Thìn dừng chân, ngẫm một giây rồi cười, mấy cái răng còn lại lộ ra dưới môi trầu. "Có chứ, sáng nay tôi ra ngõ đã ngửi thấy rồi, chắc chiều nay có mưa đây."
Bà đi tiếp, tiếng dép xa dần. Cụ Trạc quay lại nhìn tôi, không giải thích gì thêm, nhưng tôi hiểu ngay cụ vừa làm gì. Đó là một lần nhắc, ngay trước mặt tôi, để tôi thấy nó trông như thế nào chứ không chỉ nghe kể.
"Cô làm được như thế đấy." Cụ nói. "Không cần trịnh trọng. Chỉ cần cái miệng khác nghe được, hiểu được, thế là tính."
Tôi gật, ghi nhớ cách bà cụ Thìn trả lời tự nhiên, không ai trong hai người có vẻ đang làm một việc quan trọng. Đúng là chỉ như hỏi thăm trời mưa trời nắng. Nhưng giờ tôi biết đằng sau câu hỏi vu vơ đó là một món nợ đang được trả đúng hạn.
Tôi ngồi lặng đi. Con số bốn ngày, hai lần nhắc, tự nhiên trở thành một thứ nặng trịch trong đầu tôi, như một cái hoá đơn tôi chưa từng biết mình đã ký nhận. Tôi nghĩ tới ba tháng còn lại ở thung Nác, nghĩ tới lúc mình về Hà Nội, xa cả làng, xa cả những cái miệng còn nhớ khươm cùng mình. Ai sẽ nhắc nó khi tôi không còn ở đây.
Cụ Trạc đứng dậy, chậm, một tay chống vào thành ghế. Cụ không tiễn tôi ra cổng như mọi khi, chỉ đứng đó, nhìn tôi từ trên xuống, ánh mắt không dữ nhưng không mềm.
"Cô còn nhớ nổi bao nhiêu cái như thế nữa không." Cụ hỏi, không phải câu hỏi cần trả lời ngay, giọng như thả ra một thứ để tôi mang về mà nghĩ.
Tôi mở miệng, định nói một con số, bất cứ con số nào cũng được, miễn có cái gì để đáp lại. Nhưng không có con số nào hiện lên trong đầu tôi cả. Tôi không biết mình còn chỗ cho bao nhiêu, không biết cách đo, không biết mình đã dùng hết bao nhiêu phần cái chỗ ấy chỉ với một chữ duy nhất là khươm.
Tôi đứng đó, dưới bóng cây mít, không có câu trả lời nào để đưa ra.
Tối đó tôi mở sổ, kẻ lại một khối theo đúng cách cụ Trạc từng gõ ngón tay chỉ cho tôi xem ở mấy trang đầu.
``` ▸ khươm — mục 12 thớ: đầy miệng: 1 (Hoài) nghĩa: mùi đá ướt trước khi mưa tới tiếng: lần cuối 18/9, còn 3 ngày ```
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 17 →