🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Thuở Đất Chưa Tên — Tuyến A · Rẫy mới, gần Lung Không Tên, 1938

Thằng Cu Bảy à, lại đây ngồi gần ông một chút, để ông kể cho nghe cái chuyện hồi ông mới ra riêng, trước khi mai mốt con vác dao ra rẫy phát đất chỗ mới, kẻo lại giẫm y cái vết ông giẫm hồi trẻ.

Hồi đó ông với bà nội con mới cưới nhau chưa đầy năm, nhà cha mẹ chật, ông xin ra riêng, được người ta chỉ cho một đám đất bỏ hoang gần khu Lung Không Tên, đất tốt, cây tạp mọc dày, chỉ cần phát dọn là làm rẫy được. Ông mừng lắm, nghĩ bụng có đất riêng rồi, không phải ở đậu nhà ai nữa.

Bữa đi coi đất, ông già hàng xóm, người ta hay gọi ông Tư Đảnh, biết chuyện, dặn ông một câu: mày phát đất chỗ đó, nhớ cúng xin trước một tiếng, đừng có ỷ trai trẻ mà bỏ qua. Ông Tư Đảnh hồi đó đã ngoài sáu mươi, cả đời phát không biết bao nhiêu đám đất, tay chân còn cứng cáp, mỗi lần nói chuyện đất đai là dân trong xóm phải nghe, không ai dám cãi ngang. Ông kể, hồi ổng còn trẻ, có một đám bạn cùng lứa, ỷ sức trai, coi thường lệ xin đất, phát vô sâu trong khu Lung Không Tên làm liều, kết cuộc mỗi người một cảnh, người thì mất trâu hoài không rõ lý do, người thì làm ăn cứ trục trặc năm này qua năm khác, không ai dám nói thẳng là tại đất, nhưng trong bụng ai cũng ngờ ngợ.

Ông hồi đó mới hai mươi mấy, máu còn nóng, nghe ông Tư Đảnh kể vậy chỉ cười, nói ông Tư nói chuyện xưa quá, thời này ai còn tin ba cái đó, đất hoang thì phát, ai cho phép ai xin, có ai đứng đó mà xin. Ông Tư Đảnh không cãi, chỉ lắc đầu, nhìn ông một lúc lâu như tiếc cho thằng nhỏ chưa biết sợ, rồi nói tùy mày, ông nói cho biết vậy thôi, tin hay không là chuyện của mày, tao già rồi, đâu cản được ai.

Sáng hôm sau, ông với bà nội con vác dao mác, cuốc xẻng ra đám đất đó, hì hục phát cây, dọn cỏ. Đất đó cây tạp mọc dày, chủ yếu là chà là, mua, với vài bụi tre gai lâu năm, phát tới đâu phải chặt gốc sát đất tới đó, không thì mai mốt cày bừa vướng gốc. Dao mác phải liếc bén thường xuyên, phát chừng nửa buổi là lưỡi đã cùn, ông với bà nội con thay phiên nhau, người phát người dọn gom thành đống chờ khô đốt. Cỏ tranh với dây choại quấn chằng chịt dưới gốc cây lớn, phải dùng cuốc bươi lên tận rễ, không thì chỉ ít lâu là mọc lại như cũ, công toi. Cả buổi mệt nhoài, mồ hôi ướt đẫm cả áo, mà cũng được kha khá, nhìn đám đất trống dần ra, lòng ông mừng rơn, nghĩ tới cảnh vài tháng nữa lúa lên xanh rờn chỗ này.

Trưa nghỉ tay, hai vợ chồng ngồi ăn cơm nắm dưới gốc cây tràm còn sót, chấm với mắm kho quẹt bà nội con làm sẵn từ nhà, để dao mác, cuốc xẻng gọn một chỗ bên hông, ăn xong ngủ trưa một chút, gối đầu lên bao bố gạo, rồi dậy làm tiếp tới chiều tà mới thu dọn về.

Chiều về, ông với bà nội con dọn đồ nghề đem về, cũng không để ý kỹ, chỉ nhớ đại khái để đâu là để đó. Sáng hôm sau ra lại, ông thấy cây dao mác của mình, hồi hôm rõ ràng ông dựng gần gốc tràm, sao bữa nay lại nằm cách đó chừng chục bước, dưới một bụi cỏ tranh, lưỡi dao cắm xuống đất theo chiều dựng đứng, y như có ai đó cầm cắm xuống chớ không phải tự rớt. Ông hơi khựng lại một chút, nghĩ chắc hồi qua mình mệt quá, nhớ lộn chỗ để, không để bụng, lượm lên làm tiếp.

Vài bữa sau, chuyện lặp lại. Cây cuốc để một chỗ, sáng ra thấy nằm chỗ khác, có bữa cán cuốc gác ngang qua một khúc cây đổ, cân bằng khéo léo như có ai xếp cho ngay ngắn, chớ tự nó rớt xuống đâu có nằm gọn gàng vậy được. Bà nội con lúc đó bắt đầu thấy ơn ớn, nói hay là có ai lén vô rẫy ban đêm nghịch phá, ông thì gạt đi, nói ai rảnh mà nửa đêm mò vô rừng sâu vầy để dời có cây cuốc cây dao, chắc con chồn con cáo gì tha giỡn thôi.

Đám đất ông với bà nội con phát dọn cũng lạ, chỗ ông chắc mẩy hôm qua đã dọn sạch, sáng ra vẫn thấy sạch, không có gì mọc lại kỳ, chỉ có cái cảm giác là góc đất đó, đứng vô là thấy gai gai sau ót, dù nắng vẫn chang chang, gió vẫn hiu hiu như mọi chỗ khác trong rẫy.

Rồi tới chuyện hũ gạo. Hai vợ chồng nấu ăn tại chòi lá dựng tạm ngay đầu rẫy, gạo đong từng bữa từ cái hũ sành nhỏ đem theo, ông nhớ rõ bữa nào đong bao nhiêu, nấu vừa đủ hai người ăn, không dư không thiếu. Vậy mà cứ vài bữa, hũ gạo lại vơi nhanh hơn tính toán một chút, không nhiều, chỉ chừng một hai vốc tay, đủ để bà nội con để ý, hỏi ông có lén ăn khuya không, ông cũng chối, nói mình đâu có đụng tới, hai đứa cứ đổ qua đổ lại, riết cũng bực mình, mà không ai dám chắc là ai sai.

Có bữa tối, bà nội con nằm không ngủ được, quay qua nói với ông, hay là mình dọn đồ nghề vô chòi cho chắc, để ngoài rẫy chi cho nó dời tới dời lui hoài, mất công. Ông ừ đại cho vợ yên bụng, nhưng bụng ông cũng lấn cấn, nghĩ thầm nếu là chồn cáo tha giỡn thì đồ nghề nặng vậy sao tha nổi, mà nói vậy sợ vợ thêm lo, nên ông giữ trong bụng, không nói ra.

Ông kể tới đây, chắc con hỏi ông có sợ không. Thiệt tình hồi đó ông không sợ dữ dội gì, chỉ khó chịu, bực bội, kiểu như trong nhà cứ có ai đó lấy đồ mình xài ké mà không ai bắt được tại trận, mất công đi tìm, mất công cãi nhau với vợ, làm ăn không yên cái bụng. Có bữa hai vợ chồng còn giận nhau cả buổi chiều chỉ vì cái vụ hũ gạo, bà nội con nói ông ăn vụng giấu giếm, ông nói ngược lại, cãi qua cãi lại một hồi mới thôi, tối lại nằm gác tay lên trán, cả hai đều không ngủ ngon, cùng nghĩ trong bụng chắc có chuyện gì đó, mà không ai chịu nói ra trước.

Chuyện dây dưa cỡ hơn tháng, tới bữa bà Nhen, bà già bán thuốc rê hay gánh hàng dạo qua mấy xóm rẫy, ghé ngang chòi ông nghỉ chân uống miếng nước. Bà Nhen dáng nhỏ thó, lưng hơi còng, quẩy đôi gióng đầy thuốc rê với mấy thứ lặt vặt khác, đi khắp vùng bán dạo, ai cũng biết mặt mà không ai rõ bà bao nhiêu tuổi, hỏi thì bà chỉ cười, nói già bằng cái xứ này. Bà ngồi bệt xuống bậc thềm chòi, rót nước mưa trong cái gáo dừa uống một hơi, nghe ông kể chuyện dao mác tự dời chỗ, gạo tự vơi, chỉ cười cười, hỏi ông một câu: chú phát đất chỗ này, có cúng xin trước không.

Ông ngần ngừ, kể lại chuyện ông Tư Đảnh dặn hồi trước, ông không nghe, còn cười ông già lẩm cẩm. Bà Nhen gật gù, không trách, chỉ nói vậy đúng rồi, đất nào cũng vậy, mình vô ở, vô làm, phải có tiếng xin trước, không phải để ai cho phép, mà để đất biết mình tới ở đàng hoàng, chớ không phải tới giành. Bà nói, đất hoang tưởng vô chủ, chớ thiệt ra đất nào cũng có cái nếp riêng của nó, mình là người mới tới, giữ ý một chút thì yên, không giữ ý thì cứ như đứa con nít mới lớn xông vô nhà người ta không gõ cửa, chủ nhà dầu không nói ra miệng cũng khó chịu trong bụng.

Bà chỉ ông cách làm, đơn giản lắm, một nắm gạo, một nắm muối, gói trong lá chuối xé sẵn, cột lại bằng cọng lạt, chôn ở bốn góc đất, mỗi góc chôn cạn tay, đừng chôn sâu quá. Thắp ba cây nhang cắm giữa đất, khấn vài câu, không cần bài bản, chỉ cần thiệt lòng, nói rõ tên mình, nói mình xin ở, xin làm ăn, không có ý tranh giành hay phá phách gì. Bà dặn thêm, cúng xong đừng có ngoái lại nhìn chỗ vừa chôn, cứ đi thẳng ra làm việc khác, coi như xong việc rồi thì thôi. Ông hỏi bà, vậy chớ cúng xong rồi có chắc hết chuyện không, bà Nhen chỉ cười, nói bà đâu có biết chắc trăm phần trăm, bà chỉ biết người ta hay làm vậy, làm rồi thì yên, chú làm thử coi, có tốn kém gì đâu mà ngại.

Ông về bàn với bà nội con, tính tới tính lui, cũng không tốn kém bao nhiêu, một nắm gạo với nắm muối có sẵn trong nhà, nhang thì mua ngoài chợ vài cắc, làm thử coi sao, có mất mát gì đâu. Bà nội con nghe xong mừng ra mặt, giục ông làm liền, đừng chần chừ, nói thà cúng cho yên bụng còn hơn cứ bực bội cãi nhau hoài vì mấy chuyện lặt vặt.

Vậy là cuối tuần đó, hai vợ chồng dậy thật sớm, trời còn mờ sương, ra rẫy trước khi bắt tay làm việc gì khác. Ông gói bốn phần gạo muối bằng lá chuối, bà nội con cầm bó nhang với hộp quẹt đi theo sau. Tới góc đất đầu tiên, ông cuốc một lỗ cạn, đặt gói gạo muối xuống, lấp đất lại, thắp một cây nhang cắm bên trên. Đi vòng qua ba góc còn lại làm y vậy, tới góc chót, ông đứng giữa đất, chắp tay, khấn nho nhỏ, xưng tên mình, tên vợ, nói hai vợ chồng tới đây xin ở, xin làm ăn, mong yên ổn, không có bụng dạ tranh giành gì với ai hết. Bà nội con đứng bên cạnh, cũng chắp tay theo, cúi đầu im lặng. Khấn xong, ông nhớ lời bà Nhen dặn, không ngoái lại nhìn, cứ vậy đi thẳng về phía chòi, lấy dao mác ra làm việc bình thường như mọi bữa.

Từ bữa đó về sau, cây dao mác để đâu, sáng ra vẫn ở đó. Cây cuốc dựng góc nào, hôm sau vẫn góc đó, không xê dịch. Hũ gạo đong bao nhiêu, nấu hết bấy nhiêu, không dư không thiếu nữa. Ông với bà nội con làm rẫy chỗ đó gần chục năm, tới hồi dời đi nơi khác, cũng không còn gặp chuyện gì kỳ lạ thêm lần nào nữa.

Con hỏi ông, vậy chớ hồi đó là ai, cái gì lấy gạo, cái gì dời đồ nghề của ông. Thiệt tình ông cũng không biết trả lời sao cho con nghe, ông không phải thầy pháp, không biết niệm chú, không biết đọc bùa, ông chỉ là thằng phát rẫy làm ăn bình thường. Ông có lần đem chuyện này hỏi lại ông Tư Đảnh, sau khi mọi chuyện đã êm, ông Tư Đảnh chỉ cười, vỗ vai ông, nói mày giờ mới biết sợ hả, tao nói có sai đâu. Ông hỏi thêm, vậy chớ ông Tư biết rõ là cái gì không, ông Tư Đảnh lắc đầu, nói tao cũng đâu có biết, tao chỉ biết ông bà mình dặn vậy, mình cứ nghe theo, có sao đâu, hơi đâu mà cố tìm cho ra cái tên của nó, biết tên rồi cũng chẳng làm được gì hơn.

Ông chỉ biết, chỗ đất nào chưa có ai đứng ra nhận, chưa có ai đặt tên, chưa có miễu có đình, thì mình vô ở phải biết giữ ý một chút, coi như tới nhà người ta chơi lần đầu, phải có tiếng chào hỏi đàng hoàng, chớ đừng có xông vô như chỗ không người. Đất đai xứ này rộng mênh mông, chỗ có tên chỗ không tên, chỗ có người ở lâu đời chỗ mới vừa dọn tới, ông già rồi, đi qua đi lại cũng nhiều nơi, thấy rồi cũng quen, cứ chỗ nào mới, mình cứ giữ phép, thiệt ra cũng chẳng thiệt hại gì tới ai.

Giờ con sắp ra riêng, đất người ta chỉ cho con cũng ở mé rừng, gần khu cũ hồi xưa ông với bà nội con làm. Ông chỉ dặn con một điều thôi, đừng có cãi lời như ông hồi trẻ. Phát đất tới đâu, nhớ cúng xin tới đó, gói gạo muối, mấy cây nhang, tốn không bao nhiêu, mà đỡ phải mất công cả tháng trời đi tìm coi ai lấy cây dao mình để chỗ này lại chạy qua chỗ khác. Con nhớ kỹ cách làm ông chỉ nãy giờ chưa, gạo với muối gói lá chuối, chôn bốn góc, ba cây nhang, khấn thiệt lòng rồi đi thẳng, đừng ngoái lại. Chỉ chừng đó thôi, không cần cầu kỳ gì thêm.

Con cười gì đó, chắc con nghĩ ông già rồi hay kể chuyện tầm phào. Ừ thì ông già thiệt, mà ông nói con nghe, có làm cũng chẳng thiệt hại gì, không làm thì có bữa phiền, biết đường nào mà lường trước được đâu con. Thôi, con vô nhà biểu bà nội con gói cho ông với con vài nắm gạo muối, để sẵn đó, mai ông dắt con ra tận đất coi, chỉ con làm tận tay một lần cho nhớ, khỏi phải nghe ông kể suông nữa. Nhớ dặn bà nội con gói cho kỹ, đủ bốn phần, đừng để thiếu, kẻo mai lại phải chạy đi chạy lại mất công.

Hết Chương 5

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 6
← TrướcTiếp →