🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Thuở Đất Chưa Tên — Tuyến A · Đầm Cán Gáo, 1890

Chuyện này bây giờ ở vùng Cán Gáo người ta còn kể, tam sao thất bổn nhiều đường, người kể vầy người kể khác, nhưng cái cốt thì ai cũng nhớ giống nhau. Xin thuật lại đây theo lời bà Tư Đẹt, năm nay đã ngoài tám mươi, người được cho là còn nhớ rõ nhất, dù chính bà cũng nói thẳng, có chỗ bà chỉ nghe má bà kể lại, không dám chắc trăm phần trăm.

Hồi năm Canh Dần, một xóm nhỏ mới lập cặp theo bờ đầm, dân tứ xứ trôi giạt về, người trốn nợ, người trốn làng cũ, cất chừng chục nóc nhà lá, be bờ trồng lúa mùa. Nhà cửa dựng tạm bợ, cột kê trên mấy khúc tràm chưa kịp khô nhựa, mái lợp lá dừa nước cắt ngoài đầm về, chưa ai có tiền cất nhà ngói. Ruộng be bờ cũng chưa xong hẳn, mùa đầu chỉ trông cậy vô mấy công lúa sạ, thêm nghề chài lưới, đặt lờ, hái bông súng ngoài đầm phụ bữa ăn. Đầm nước cạnh xóm hồi đó sấu còn nhiều, đêm nào cũng nghe tiếng quẫy nước ầm ầm ngoài đó, có bữa sấu lên bờ táp mất con chó, con heo, có bữa kéo luôn con trâu nghé xuống nước, dân trong xóm sợ không dám ra bến giặt đồ ban chiều, con nít bị cấm tiệt không cho lại gần mé đầm dù chỉ để hứng nước mưa đọng.

Hội đồng xóm mới họp bàn cả một đêm dưới nhà ông hương chủ, cuối cùng gom tiền, cho người chèo xuồng đi Rạch Giá mời ông Hai Sẹo. Người đi mời kể lại, tìm tới nhà ông Hai Sẹo mất gần trọn buổi, hỏi thăm khắp mấy dãy phố ven sông mới ra, nhà ông nằm khuất trong một con hẻm nhỏ, sân phơi đầy da sấu căng trên khung tre, mùi thuộc da nồng nặc bay ra tới ngoài lộ. Ông nghe kể chuyện đầm Cán Gáo sấu quấy phá dữ, gật đầu nhận lời ngay, hẹn đầu mùa khô sẽ xuống.

Ông Hai Sẹo hồi đó tiếng tăm nổi khắp vùng Kiên Giang xuống tới Cà Mau, nghe đâu bắt sấu từ hồi còn con nít theo cha, tay chân đầy sẹo cắn, có cái sẹo dài từ vai xuống tới cùi chỏ, dân trong nghề đồn là dấu răng một con sấu chúa ông từng bắt hụt. Ông tới xóm vào đầu mùa khô, đúng lúc nước đầm rút cạn, sấu dồn hết vào mấy cái đìa nhỏ còn sót nước, dễ vây, dễ bắt. Ông nói với hội đồng xóm, mùa này bắt là trúng mùa nhất, chậm qua tháng sau nước lên lại, sấu tản ra khắp đầm, có muốn bắt cũng khó.

Cách ông làm, người già trong xóm còn kể lại rành rọt. Ông không dùng súng, nói súng bắn trúng sấu mà không chết ngay thì nó lặn mất, uổng công. Ông dùng cây sào tre dài, đầu gắn cái ngoéo sắt tự rèn, thọc vào hang sấu ở gốc bần, gốc mắm ven đìa, dò cho ra chỗ sấu núp, rồi lùa cho nó trồi lên giữa đìa cạn nước. Sấu vừa trồi, ông với hai người phụ việc quăng dây mây trói mõm liền, cột chặt bằng nút thòng lọng kép, sấu càng giãy càng siết. Trói xong mõm rồi mới dám lại gần, xỏ dây patăng qua hàm dưới, cột hai đầu vào đòn tre, hai người khiêng lên bờ, chất lên ghe chở về, có bao nhiêu người trong xóm cũng ùa ra coi, con nít đứng xa xa chỉ trỏ, người lớn bàn tán con này lớn con kia nhỏ, tối đó nhà nào cũng nghe kể lại chuyện bắt sấu ngoài đìa như một cái hội.

Có bữa gặp con sấu lớn, lanh, giãy mạnh làm đứt dây mây, hai người phụ việc hoảng hồn nhảy lui, chỉ mình ông Hai Sẹo đứng nguyên tại chỗ, tay cầm sào ngoéo chận ngang đầu sấu, miệng quát lớn biểu hai người kia đừng chạy, chạy là sấu càng hăng. Ông dụ cho nó táp hụt vô khoảng không hai ba lần, chờ nó mệt sức, mới thọc sào ghịt đầu xuống bùn, chồm tới cột lại dây mới. Xong việc, ông ngồi bệt xuống bờ đìa thở dốc, tay áo rách toạc một đường, không nói câu nào, chỉ biểu hai người phụ việc lấy rượu đế ra, đổ một chút lên vết trầy nơi cánh tay, uống một hớp, rồi đứng dậy làm tiếp như không có chuyện gì.

Da sấu ông đem về thuộc bằng phèn chua với vỏ tràm giã nhuyễn, phơi đúng ba nắng cho cứng mà không giòn, rồi gói cẩn thận chở lên bán cho chành ở Rạch Giá được giá cao, một tấm da sấu lớn đổi được ba đồng bạc, có khi hơn, tùy da lành hay rách, chủ chành cầm lên soi ánh sáng, đếm từng lỗ thủng do sào ngoéo lỡ tay đâm trúng mà trừ giá. Thịt sấu chia bớt cho xóm ăn, phần đuôi ngon nhất để dành nấu cháo đãi cả nhà hội đồng, mỡ sấu để dành thắng lấy dầu thoa ghe cho khỏi mọt, thoa cả lên mấy vết trầy trên tay chân đám con nít hay lội đầm. Ông Hai Sẹo làm nghề này nuôi cả một bầy con, tiếng đồn ông giàu nhất trong đám thợ bắt sấu vùng dưới, mà cũng tiếng đồn ông gan nhất, dám lội xuống đìa sâu tới ngực mò sấu núp dưới bùn, tay không mà lôi lên được, đêm nằm ngủ vẫn nghe ông rên khe khẽ vì mấy vết sẹo cũ trở trời nhức.

Xóm mới lập kêu ông bắt cho sạch cái đầm, hẹn công mỗi con một cắc bạc, chưa kể da chia đôi. Ông Hai Sẹo gật đầu, nói cỡ đầm này chắc đâu ba bốn chục con là cùng, mười bữa nửa tháng là xong.

Bữa đầu ông bắt được mười hai con, bữa sau hai mươi, tính dồn qua tuần lễ đã được ba mươi mấy. Người trong xóm ai cũng khen ông tài, đứng coi không biết chán, đàn bà nấu cơm mang ra tận bờ đìa cho ông với hai người phụ việc ăn ngay tại chỗ, khỏi mất công về nhà.

Tới bữa thứ mười, ông với hai người phụ việc đếm lại số sấu đã bắt, cột chung một chỗ trên bờ chờ ghe lớn tới chở đi, đếm được bốn mươi ba con. Ông Hai Sẹo nói vậy chắc còn một hai con lẩn trong mấy cái hang sâu, để mai vét luôn cho sạch.

Sáng hôm sau ông với hai người phụ việc quay lại đìa cũ, lùa thêm được hai con nữa, cột chung vào bầy cũ, đếm lại tổng cộng, ra đúng bốn mươi lăm con. Ông Hai Sẹo dừng tay, đếm lại lần hai cho chắc, vẫn bốn mươi lăm, không hơn không kém. Ông không nói gì, chỉ đứng nhìn hàng sấu cột dọc bờ đìa một lúc lâu, rồi biểu hai người phụ việc dọn ghe chở về sớm, khỏi ở lại đìa thêm bữa nào nữa, coi như xong việc.

Chuyện tới đây, nếu chỉ có vậy thì cũng chỉ là một chuyện bắt sấu tài giỏi bình thường, đáng lẽ không ai còn nhắc. Nhưng bà Tư Đẹt kể, hồi đó má bà, lúc còn sống, có lần buột miệng nói một câu, không phải nói với ai, chỉ như nói một mình lúc ngồi vá lưới: bốn mươi lăm con, đúng y như hồi xóm cũ, trước khi dời qua đây lập lại, còn đâu chừng đó nóc nhà.

Bà Tư Đẹt kể lại câu đó, mà chính bà cũng nhớ không chắc, có khi má bà nói "bốn mươi", có khi bà nhớ ra "bốn mươi lăm", cứ lộn hoài không phân định được là con số nào đúng. Bà nói thiệt, chỗ này bà không dám quả quyết, sợ kể sai làm người nghe hiểu lầm, tay bà vừa kể vừa đưa lên gãi đầu, ánh mắt nhìn xuống chiếu đang dệt dở chớ không nhìn thẳng người nghe, như thể cái không chắc đó khiến bà ngượng.

Chỉ có một điều bà chắc chắn không lộn: xóm cũ, cái xóm mà đám dân này rời bỏ trước khi dời qua đầm Cán Gáo lập lại, không ai trong xóm mới còn nhắc tên nó là gì, cũng không ai còn nhớ rõ vì sao phải dời đi. Bà từng có lần hỏi thẳng ông hương chủ, người lớn tuổi nhất xóm, hồi mình dời từ đâu qua đây vậy ông, ông hương chủ ngẩn ra một chút, gãi cằm, nói cũng không nhớ rõ, chắc hồi đó còn nhỏ quá, chỉ nhớ có dời, không nhớ dời từ chỗ nào. Hỏi thêm mấy người già khác trong xóm cũng y vậy, ai cũng chỉ nói ầu ơ, chắc tại đất xấu, chắc tại mất mùa, không ai kể được rành mạch một câu, mà cũng không ai thấy lạ vì sao cả xóm cùng quên một chuyện giống hệt nhau.

Ông Hai Sẹo sau chuyến đó lãnh tiền công, lãnh phần da chia, rồi từ giã xóm, nói còn phải đi xuống mấy đầm dưới Cà Mau, người ta cũng đang mời. Xóm tiễn ông ra tới bến, con nít chạy theo một đoạn, ai cũng dặn năm sau rảnh ghé chơi.

Năm sau ông không ghé. Năm sau nữa cũng không. Trong xóm có người đi Rạch Giá buôn bán, hỏi thăm tin tức ông Hai Sẹo, người ở chợ lắc đầu, nói cỡ chục năm nay không ai còn thấy ông xuất hiện ở chành da sấu nữa, có người đồn ông dọn nhà đi xứ khác làm ăn, có người đồn ông bỏ nghề, già rồi, ở đâu đó dưỡng già với con cháu. Không ai biết chắc, mà cũng không ai buồn đi tìm cho ra lẽ, vì dầu sao ông cũng đâu phải người trong xóm này.

Chỗ này, bà Tư Đẹt kể khác hẳn mọi người. Bà nói, không phải ông bỏ đi đâu hết. Bà nói ông vẫn còn, có điều từ chuyến bắt sấu đó về sau, trong xóm riết rồi không ai còn kêu tên ông ra nữa, gặp ai kể chuyện bắt sấu năm xưa cũng chỉ nói trổng "ông thợ bắt sấu hồi đó", không ai buột miệng kêu đúng "ông Hai Sẹo" như trước, cứ vậy hoài, năm này qua năm khác, tên ông lợt dần trong miệng người ta, tới lúc không ai gọi nữa thì coi như ông đã đi mất, mà thiệt ra có ai thấy ông đi đâu hồi nào.

Người trong xóm nghe bà Tư Đẹt kể vậy, phần đông cười, nói bà già rồi lẫn, chuyện có nhiêu đó mà thêu dệt, có người còn chọc, hỏi vậy chớ ông Hai Sẹo giờ ở đâu, bà chỉ đường coi thử. Bà Tư Đẹt không giận, chỉ cười trừ, nói bà đâu có nói ông ở đâu, bà chỉ nói ông không có đi đâu hết, hai chuyện đó khác nhau, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Có ông già trong xóm, tên Sáu Cận, từng đi ghe buôn tận Cà Mau nhiều năm, nói xen vô một câu, kể có bận ông gặp một người thợ bắt sấu già ở tuốt dưới Năm Căn, mặt mày, dáng đi giống ông Hai Sẹo như đúc, hỏi thăm thì người đó chỉ cười, không nhận cũng không cãi, hỏi tên thì nói tên gì không quan trọng, ở đây ai kêu sao thì nghe vậy. Chuyện đó kể ra rồi cũng chìm, không ai buồn đi Năm Căn tìm cho ra lẽ, đường xa, mà tìm ra cũng chưa chắc giải quyết được gì.

Nhưng cũng có người, mỗi lần đi ngang cái đìa cạn hồi xưa ông Hai Sẹo bắt sấu, giờ đã lấp gần đầy, chỉ còn một vũng nhỏ mùa khô còn thấy đáy, vẫn hay đứng lại một chút, không nói ra miệng, mà trong bụng thầm kêu tên ông một tiếng, như cho chắc là còn có người nhớ. Có bà mụ vườn trong xóm, mỗi lần đỡ đẻ xong, đặt tên cho đứa nhỏ trai đầu lòng nhà nào, hay chêm thử một câu đùa, hỏi có ai muốn đặt tên con là Sẹo cho dễ nuôi không, nói vậy rồi tự cười một mình, không ai theo, mà bà cũng không bỏ cái tật hỏi đó, năm nào cũng hỏi lại như một cách riêng để nhắc.

Có một chi tiết, bà Tư Đẹt nói tới cuối đời vẫn còn giữ, không cho ai lấy đi. Hồi dọn nhà cũ, bà lượm được một cây mác cời, cán tre đã mục gần hết, lưỡi sét đóng dày, nghe đâu là đồ nghề ông Hai Sẹo bỏ quên lại xóm bữa từ giã, không ai buồn giữ, cuối cùng trôi giạt về tay má bà rồi tới tay bà. Trên cán mác, có khắc mấy chữ, nét khắc cạn, không sâu, không giống chữ ký thường ông hay đề trên mấy tấm da bán cho chành, nét run run, xiêu vẹo như khắc lúc trời tối hoặc khắc bằng tay không quen cầm dao nhỏ. Bà lấy tro chà lên mới đọc ra được, ba chữ: Hai. Văn. Sẹo. Bà cất cây mác đó trong bồ lúa cũ, không cho ai đem bán ve chai, nói để vậy, lỡ có bữa nào có ai hỏi tới ông Hai Sẹo thiệt tình, còn có cái mà đưa ra làm bằng.

Đầm Cán Gáo bây giờ không còn sấu nữa, ruộng lấn gần hết, chỉ còn lại cái tên, và cái đìa cạn hồi xưa giờ dân trong vùng gọi trổng là đìa Ông Sẹo, không ai giải thích được vì sao gọi vậy, hỏi tới thì chỉ nói nghe ông bà kể lại đã lâu, chắc hồi xưa có ông nào tên vậy ở gần đó. Bà Tư Đẹt nghe người ta gọi vậy, không cải chính, cũng không xác nhận, chỉ ngồi im, tay vẫn đưa thoi dệt chiếu đều đều, như chuyện đó không còn liên can gì tới bà nữa.

Hết Chương 4

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 5
← TrướcTiếp →