🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Thuở Đất Chưa Tên — Tuyến A · Công trường đào kinh xáng Rạch Giá – Cà Mau, 1903

Trích tờ trình ngày 9 tháng 11 năm 1903, gởi Chủ tỉnh Rạch Giá, do cai Tư Lộc chấp bút, có ông kỹ sư Reynier ký tên phía dưới.

Kính trình,

Công trường đào đoạn kinh nối từ Vàm Cái Lớn xuống hướng Cạnh Đền, do xáng múc số 4 đảm trách, tính tới ngày hôm nay đã đào được tám cây số ba trăm thước, đúng theo bản vẽ đã duyệt. Nhân công gồm phu người Việt và người Khmer, tổng số bảy mươi bốn người, chia làm ba tốp làm theo ca.

Cai Tư Lộc viết tờ trình này đúng như lệ, mỗi tuần một tờ, gởi lên dinh tỉnh, chữ nghĩa cứng ngắc, số liệu rành mạch. Ông không phải người có ăn học nhiều, chỉ đủ chữ quốc ngữ để chép cho ông kỹ sư Reynier đọc lại, sửa vài chỗ, rồi ký tên. Nhưng cái tờ trình tuần này, ông chép mà tay run, phải chép lại ba lần mới chịu đưa.

Ông làm cai đã năm năm, đi theo hết công trường này tới công trường khác, từ hồi đào kinh Xà No cho tới khúc Cán Gáo, quen việc điểm danh, quen việc phát lương, quen luôn cả cái cảnh dân phu bỏ trốn giữa chừng vì cực khổ hay vì thiếu ăn. Lương cai mỗi tháng tám đồng bạc, hơn phu thường gấp đôi, đủ để ông gởi về nuôi vợ con ở Rạch Giá, nên ông cắn răng làm, dù việc coi sóc cả trăm con người giữa rừng sâu nước độc chưa bao giờ là việc nhẹ nhàng. Lán trại dựng tạm bằng cột tràm, mái lá, nằm dọc theo bờ kinh đang đào, muỗi mòng dày đặc tối nào cũng phải đốt un cả dãy mới ngủ được. Tiếng máy xáng chạy rền rền từ sáng tới khuya, có bữa nửa đêm còn giật mình tưởng máy hư, hóa ra chỉ là quen tai với tiếng ồn nên hễ nó ngưng lại là thấy lạ.

Chuyện bắt đầu từ hôm xáng múc trúng cái đá.

Xáng số 4 là loại xáng cạp, gàu sắt to bằng cả cái xuồng ba lá, múc bùn đổ hai bên bờ kinh thành đê, chạy đều đều suốt ngày đêm, tiếng máy nổ vang cả một khúc rừng, chim cò bay tán loạn từ hồi mới kéo xáng tới. Bữa đó gàu múc lên một khối đá xanh, to cỡ cái nong, mặt đá nhẵn thín như có ai mài, không giống đá vôi vẫn hay gặp trong vùng đất phèn này. Xáng khựng lại, máy rú lên một hồi rồi tắt ngúm, thợ máy người Hoa lui cui sửa cả buổi không ra bịnh gì.

Đám cu-li Khmer làm việc gần đó, mấy chục người đang xúc đất đắp đê, thấy khối đá thì ngừng tay, xì xào với nhau bằng tiếng Khmer, không ai dám lại gần. Cai Tư Lộc hỏi thông ngôn coi họ nói gì, thông ngôn ngập ngừng một chút mới dịch: đó là đá ông Tà, đá thiêng, không phải đá thường, đào trúng chỗ đó là mắc họa.

Có một ông già trong đám phu Khmer, tên gọi theo cách người Việt kêu là ông Tà Sơn, tóc bạc trắng, làm phu đã lâu năm, quỳ xuống bên mé kinh, chắp tay hướng về khối đá, miệng lầm rầm không rõ tiếng. Ông kéo tay cai Tư Lộc lại gần, nói qua thông ngôn, giọng khẩn khoản: đá ông Tà nằm ở đâu thì chỗ đó có chủ, dời đá đi mà không xin phép thì đừng có đếm người ở gần đó nữa, đếm vô sẽ không ra số đúng. Tư Lộc nghe không hiểu hết ý, chỉ ghi nhớ đại khái là phải cẩn thận, rồi đem lời đó thưa lại với ông kỹ sư.

Ông kỹ sư Reynier nghe xong chỉ cười, phất tay kêu đào tiếp. Ông là dân kỹ thuật, học bên trường mỏ ở Paris, qua xứ này làm việc đo đạc, tin vào thước dây với bản vẽ hơn tin vào chuyện đá thiêng đá thường. Ông nói với Tư Lộc, qua tiếng Pháp bồi trộn tiếng Việt, đại khái là đất đai không có chủ, chỉ có ranh giới trên giấy, hòn đá nằm dưới lòng kinh thì cứ múc lên, cản trở công trình là không được.

Đêm đó, hai phần ba đám cu-li Khmer bỏ trốn khỏi lán trại, không lấy tiền công còn thiếu, không nói một lời từ giã. Sáng ra chỉ còn lại chưa tới ba chục người, phần lớn là phu Việt từ Rạch Giá xuống làm mướn theo mùa.

Tư Lộc phải điểm danh lại từ đầu để báo cáo lên dinh tỉnh. Đây là chỗ mọi chuyện bắt đầu trật đường ray.

Trích tờ trình ngày 16 tháng 11 năm 1903:

Kính trình tiếp theo tờ tuần trước, xin báo cáo về việc nhân công có biến động. Sau sự việc đào trúng đá tại lý trình cây số tám ba trăm, phần lớn phu người Khmer đã tự ý rời khỏi công trường trong đêm mồng chín rạng mồng mười. Số nhân công còn lại theo điểm danh sáng ngày mười, là bảy mươi bốn người.

Bảy mươi bốn người, đúng con số tuần trước, dù đã mất gần một nửa. Tư Lộc điểm lại lần nữa, không tin nổi mắt mình, đếm từng người một, tay chỉ, miệng lẩm nhẩm, kết quả vẫn bảy mươi bốn. Ông kỹ sư Reynier nghe báo cũng ngạc nhiên, tự tay ra điểm danh, cũng ra bảy mươi bốn. Không ai buồn thắc mắc thêm, vì con số hợp với sổ sách cũ, coi như mọi chuyện ổn thỏa, có lẽ đám bỏ trốn đã có người khác từ làng gần đó tới xin làm thế chỗ trong đêm.

Tối hôm sau, phu trong lán ngồi ăn cơm, có người đếm chơi cho vui, đếm ra bảy mươi lăm. Người đếm lại lần hai, vẫn bảy mươi lăm. Có một người đứng cuối hàng, mặc áo nâu như mọi người, ngồi ăn như mọi người, nhưng khi hỏi vòng quanh, không ai nhớ nổi mặt người đó, không ai biết tên, không ai nhớ người đó tới lán từ hồi nào. Sáng hôm sau điểm danh lại, còn bảy mươi ba.

Cai Tư Lộc không dám ghi thẳng chuyện này vào tờ trình. Ông sợ ông kỹ sư đọc xong cho là dân bản xứ mê tín dị đoan, làm trễ công việc, mà lỡ ông kỹ sư báo lên trên là cai làm việc lỏng lẻo, sổ sách không rõ ràng thì có khi mất luôn cái chức cai đang giữ. Ông ngồi cả buổi tối bên ngọn đèn dầu, chép đi chép lại mấy dòng, gạch bỏ, viết lại, cuối cùng chỉ ghi:

Số nhân công có sai lệch nhẹ do việc kiểm đếm ban đêm chưa được chính xác, sẽ chấn chỉnh trong tuần tới.

Nhưng cái sai lệch đó không chấn chỉnh được. Tuần sau, bảy mươi bốn. Tuần sau nữa, bảy mươi lăm. Có tuần đếm buổi sáng ra một số, buổi chiều đếm lại ra số khác, chênh nhau một hai người, không bao giờ khớp hai lần liên tiếp. Người đứng cuối hàng lúc nào cũng có, lúc nào cũng không ai nhớ mặt, và mỗi lần cai Tư Lộc cố tình lại gần để nhìn cho kỹ, người đó lại vừa quay đi chỗ khác, hoặc vừa cúi xuống xúc đất, hoặc bị bóng người khác che khuất, chưa bao giờ nhìn được trọn mặt.

Ông kỹ sư Reynier, sau vài lần tự tay điểm danh cũng gặp chuyện tương tự, bắt đầu cáu gắt, nghi ngờ có ai gian lận sổ lương, ăn bớt tiền công người vắng mặt. Ông cho gọi riêng Tư Lộc lên, hỏi thẳng, có phải ông ăn gian tiền công không. Tư Lộc thề sống thề chết là không, và thiệt sự ông cũng không dám, vì tiền công phát tận tay từng người, có chữ ký hoặc điểm chỉ đàng hoàng, mà sổ chữ ký thì lại đúng khớp với số người có mặt hôm đó, dù số đó là bảy mươi ba hay bảy mươi lăm.

Có tuần ông kỹ sư tự mình đứng ra đếm ba lần liền trong một buổi sáng, lần đầu bảy mươi bốn, lần hai bảy mươi lăm, lần ba lại bảy mươi bốn, cách nhau chưa đầy nửa giờ đồng hồ, người đứng nguyên một chỗ, không ai ra vô. Ông đứng lặng người một lúc, rồi bỏ vào lều riêng, không nói thêm câu nào, tối đó cũng không ăn cơm chung với đám cai như thường lệ.

Có một bữa, một phu người Việt tên là Sáu Nhành, quê ở Long Xuyên, làm ở công trường đã hai tháng, kể lại cho Tư Lộc nghe, giọng thì thầm sợ hãi: đêm hôm trước anh ta thức giấc đi tiểu, thấy người đứng cuối hàng đang ngồi một mình bên đống lửa tàn, không ăn, không nói, chỉ ngồi nhìn về hướng khối đá xanh nằm chèn bên bờ kinh, cái khối đá xáng đã múc lên nhưng không ai dám dời đi chỗ khác, cứ để nằm chèn đó, cỏ mọc lấn dần quanh chân đá.

Sáu Nhành nói, ánh lửa hắt lên, anh thấy rõ người đó mặc áo nâu như mọi phu khác, dáng người cũng bình thường, nhưng cái bóng đổ trên mặt đất, dài ra theo hướng khác hẳn hướng lửa. Anh không dám lại gần hỏi han, chỉ lặng lẽ quay vô lán, trùm mền, không ngủ được tới sáng.

Sau bữa đó, Sáu Nhành xin nghỉ việc, viện cớ về quê có đám giỗ. Tư Lộc phát lương đầy đủ, tiễn anh ra tới bến ghe, còn dặn dò đi đường bình an. Trước khi xuống ghe, Sáu Nhành nắm tay Tư Lộc, hỏi một câu không đầu không đuôi: "Cai nhớ tên tui không?" Tư Lộc cười, nói nhớ chớ sao không, Sáu Nhành, quê Long Xuyên, làm ở đây hai tháng. Sáu Nhành gật đầu, thở ra một hơi nhẹ nhõm, rồi mới chịu bước xuống ghe. Tư Lộc đứng nhìn theo, không hiểu vì sao một câu hỏi đơn giản vậy mà người ta lại cần nghe câu trả lời tới mức đó.

Mấy tuần sau, công trình đào tới đoạn cuối, sắp nối thông ra Cạnh Đền. Ông kỹ sư Reynier mừng vì đúng tiến độ, gởi công điện báo về dinh tỉnh, xin cho khánh thành sớm. Bữa nghiệm thu, có quan chức từ Rạch Giá xuống, đi ghe máy dọc suốt tuyến kinh vừa đào, khen đường kinh thẳng băng, đúng bản vẽ từng thước một, không sai lệch chỗ nào.

Nhưng dân trong vùng, những người chèo ghe buôn bán dọc con kinh này về sau, lại kể một chuyện khác.

Ban ngày, đi kinh này từ đầu tới cuối, đúng như bản đồ, thẳng tắp, không có gì lạ. Nhưng có những đêm tối trời, ghe nào lỡ đi khuya, vô đầu kinh phía Vàm Cái Lớn, chèo một hồi, ra tới đầu bên kia lại không phải Cạnh Đền như trên bản đồ ghi, mà là một khúc rạch nhỏ nào đó không ai biết tên, cây cối hai bên khác hẳn, không giống chỗ mình vừa đi qua ban ngày. Ghe phải quay lại, chèo ngược trở vô, ra lại đúng chỗ Vàm Cái Lớn cũ, thở phào, rồi đợi trời sáng mới dám đi tiếp.

Có người hỏi tên khúc rạch lạ đó là gì, để còn biết đường tránh, thì không ai trả lời được. Trên bản đồ của Sở Địa dư không có tên nào ghi ở chỗ đó cả, chỉ là một khoảng trắng nằm lọt giữa hai đoạn kinh đã đo vẽ xong xuôi, hai đầu đều có tên, có cây số, có trong sổ sách đàng hoàng, còn cái khoảng ở giữa thì không.

Cai Tư Lộc, sau khi công trình xong, được thuyên chuyển đi công trường khác, không còn dịp trở lại khúc kinh đó nữa. Người ta nói ông giữ lại một bản sao tờ trình cuối cùng của mình, cất trong rương, không đưa cho ai xem, tới lúc già vẫn giữ. Có người tò mò hỏi, sao không đốt đi cho rảnh, chuyện cũ rồi nhắc làm chi. Ông chỉ cười, nói để đó, biết đâu có ngày cần đối chiếu số liệu.

Con cháu ông về sau kể lại, những năm cuối đời, thỉnh thoảng ông hay ngồi một mình ngoài hàng ba, lật cuốn sổ cũ ra đếm lại, đếm từng dòng tên đã phai mực, môi mấp máy như đang lẩm nhẩm con số. Đếm xong, có khi ông gật gù coi như hài lòng, có khi ông ngồi thừ ra thật lâu, không nói gì, tay vẫn giữ nguyên trang sổ đang mở, mắt nhìn ra khoảng sân trước nhà mà như đang nhìn một chỗ nào xa hơn thế.

Trích trang cuối cùng của bản tờ trình lưu, không rõ có gởi lên dinh tỉnh hay không, chữ viết tay run rẩy hơn hẳn những tờ trước:

Kính trình, công trường đã hoàn tất đào đoạn kinh, tổng chiều dài mười bốn cây số bảy trăm thước, đúng theo bản vẽ số 27 đã duyệt. Nhân công lúc kết thúc công trình, theo điểm danh cuối cùng, là bảy mươi bốn người. Con số này khớp với con số ban đầu trước khi xảy ra sự việc đào trúng đá tại lý trình cây số tám ba trăm.

Duy có một điều, con chưa dám ghi rõ trong các tờ trình trước, nay xin phép trình bày: trong suốt tám tuần lễ thi công sau cùng, con chưa từng một lần đếm được đủ mặt bảy mươi bốn người đó là những ai, dù con giữ sổ điểm danh mỗi ngày, dù chữ ký và điểm chỉ trong sổ đều đầy đủ, đúng luật.

Tờ trình dừng lại ở đó, không có chữ ký của ông kỹ sư Reynier phía dưới như thường lệ, chỉ có một khoảng giấy trắng để trống, như thể đang chờ ai đó đặt bút xuống ký tên vào, mà tới giờ vẫn chưa có ai ký.

Hết Chương 2

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 3
← TrướcTiếp →