🚧 Ứng dụng đang phát triển (Beta) · Góp ý & liên hệ: [email protected]

Thuở Đất Chưa Tên — Tuyến A · U Minh Hạ, 1925

Bữa đó ông Chín Rỗ kể, mà ổng kể lúc đã ba xị rồi, nên nghe chơi thôi.

Quán bà Sáu Đằng nằm ngay khúc quẹo Kinh Mười Bốn, cột kê trên bốn cái trụ tràm, mái lợp lá dừa nước đã ngả màu khói. Tối nào cũng vậy, hễ ghe thương hồ ghé bán mật xong là y như rằng có mấy ông già tụ lại, kêu xị đế nấu bằng nếp than, mồi chỉ cần con khô sặc nướng với chén nước mắm dầm ớt hiểm là đủ ngồi tới khuya. Đám thanh niên trong xóm, đứa nào rảnh cũng ráng chen vô một góc ván, không phải để nhậu, mà để nghe. Chín Rỗ là cái giọng hay được nghe nhứt, vì ổng đi rừng nhiều, quen biết rộng, và vì ổng không bao giờ kể hai lần giống nhau y chang.

"Ổng" trong câu chuyện đêm đó không phải Chín Rỗ. Ổng kể chuyện ông Tư Đờn, phong ngạn xóm Kinh Mười Bốn hồi còn thời Tây mới đo đất, người dựng kèo giỏi nhứt cả một khúc U Minh Hạ, từ vàm Kinh Mười Bốn cho tới giáp ranh rừng tràm phía Cạnh Đền. Chín Rỗ hồi trẻ có lần theo Tư Đờn đi ăn ong một mùa, đủ để nhớ chuyện này tới già, đủ để bây giờ ngồi kể lại cho đám thanh niên, tay gõ gõ cái ly xây chừng xuống ván nghe cạch cạch theo nhịp.

"Tư Đờn nhận nuôi thằng Kiển năm nó tám tuổi, cha mẹ nó chết dịch tả năm Tân Dậu. Nuôi tới năm mười lăm thì kêu ra rừng, dạy nghề. Ổng nói với xóm, con nít mồ côi mà không có cái nghề cầm tay thì lớn lên khổ, thà cực bây giờ."

Nghề gác kèo, nói cho gọn, là dựng một cây kèo cho đúng chỗ: đúng hướng gió, đúng bóng nắng buổi trưa, đúng khoảng cách tới bụi tràm già gần nhứt, rồi để đó mà chờ. Ong không phải nuôi như nuôi gà nuôi vịt. Ong tự tìm tới, tự đóng tổ trên cây kèo, và người gác kèo chỉ có việc nhớ cho kỹ mình đã dựng bao nhiêu cây, dựng ở đâu, tới mùa hoa tràm nở rộ thì đi vòng, un khói, cắt tàng, vắt mật. Cái khó không nằm ở sức, nằm ở con mắt: coi hướng gió tháng Chạp khác tháng Ba ra sao, coi chỗ nào tràm ra bông dày, chỗ nào chuột bọ hay phá tổ. Tư Đờn có con mắt đó. Cả xóm Kinh Mười Bốn công nhận, kể cả xóm Ngã Ba Đình bên kia rạch, cái xóm năm nào cũng cãi cọ chuyện ranh rừng ong với xóm này, cãi nhau tới đỏ mặt tía tai ngoài đình làng, vậy mà tới lúc nói chuyện nghề thì cũng phải gật đầu, thằng cha Tư Đờn coi kèo giỏi thiệt.

Ông dạy thằng Kiển đúng bài bản, từng bước một: cách chọn cây tràm làm kèo phải thẳng, không mắt, không mối; cách gọt đầu kèo cho có chỗ ong bám; cách cột dây mây sao cho chắc mà không làm dập vỏ cây; cách nhóm un bằng lá tràm tươi trộn rơm mục, khói phải xám chớ không được đen, đen là un cháy, ong say tới chết. Dạy tới đâu, dặn kiêng tới đó. Ông có mười hai điều kiêng, đọc thuộc lòng như tụng kinh, bắt thằng nhỏ chép hết vào cuốn tập học trò cũ, giấy đã ngả vàng, gáy chỉ khâu tay.

Không được gác kèo hướng mặt trời lặn. Không được ăn ong lúc bụng đói. Không được chửi thề dưới gốc tràm có tổ. Không được đem đàn bà có nghén vô rừng ong. Không được lấy mật quá nửa tổ trong một lần cắt. Không được để lửa un khói tắt nửa chừng khi đang trèo.

Kể tới điều thứ sáu, Chín Rỗ ngừng, rót thêm ly, chép miệng.

"Còn sáu điều nữa tao quên mất tiêu rồi. Mà quên kệ, tụi bây nhớ điều thứ mười hai là đủ."

Đám nhỏ ngồi quanh nhao nhao hỏi, điều mười hai là gì, sao ông kể lộn xộn vậy. Có thằng Tám Chảnh, con bà Sáu Đằng, cười hí hí chọc: "Ông Chín kể chuyện hay quên chuyện, chắc tại ba xị đế nó cắn bớt trí nhớ rồi." Chín Rỗ trợn mắt, giả bộ giận, cầm cái đũa gõ nhẹ lên đầu nó một cái, rồi cười, cái cười của người biết mình đang giữ miếng ngon nhứt chưa chịu kể, nhưng rượu đã vô ba tuần rồi thì giữ làm chi cho mệt.

"Điều mười hai, Tư Đờn không đọc chung với mười một điều kia. Ổng kêu thằng Kiển lại riêng, một bữa nắng gắt, hai người ngồi nghỉ dưới gốc gừa, nói một mình một câu, chỉ một câu thôi: Có kèo nào con không gác mà tự có ong về, thì bỏ, đừng đụng."

Thằng Kiển hồi đó mười lăm mười sáu tuổi, cái tuổi nghe cái gì lạ cũng để bụng mà không dám hỏi lại, sợ bị chê con nít hỏi nhiều. Nó dạ một tiếng, rồi thôi, quay ra làm việc khác, coi như chuyện vừa nghe cũng nhẹ tênh như mấy điều kiêng kia.

Mùa ong năm đó coi bộ trúng. Xóm Kinh Mười Bốn dựng được hai chục cây kèo, ong về đủ mười tám, hai cây trật hướng bỏ không, kể cũng là khá lắm rồi. Tư Đờn với thằng Kiển đi vòng rừng cắt tàng cả tháng trời, ghe chở mật về bến cân cho ghe thương hồ ở chợ Thới Bình, giá năm đó một chai mật đầy bán được hai cắc bạc, đủ sắm cho thằng Kiển đôi guốc mới với Tư Đờn một cái áo bà ba ăn Tết. Bữa cân mật xong, mấy ông chủ ghe còn khen tới khen lui, nói mật Kinh Mười Bốn năm nay trong vắt, để lâu không đóng đường, khác hẳn mật xóm Ngã Ba Đình hay lẫn phấn hoa đục lờ đờ. Tư Đờn nghe khen chỉ cười hì hì, không đáp lại câu nào, vì ổng biết cái nghề này khen sớm quá coi chừng mùa sau mắc cỡ.

Rồi tới lượt đi kiểm cây kèo cuối cùng, sâu trong khoảnh rừng giáp Lung Không Tên, cái lung mà dân trong xóm hay gọi bằng đủ thứ tên khác nhau tùy năm: năm nay kêu Lung Ba Cây, năm sau đổi kêu Lung Cụt, có năm lại gọi trổng là "cái lung trong kia", không ai nhớ nổi tên thiệt của nó là gì, mà cũng chẳng ai buồn hỏi cho ra lẽ.

Thằng Kiển đi trước, xách rựa phát cỏ mở đường. Tư Đờn đi sau, tay cầm cái nóp cuộn, vai quảy cái gùi không để đựng tàng mật lát nữa cắt được.

Ngay chỗ đó, giữa hai bụi tràm già gie cành sát nhau, có một cây kèo dựng sẵn.

Không phải kèo của xóm này dựng. Cũng không phải kèo xóm Ngã Ba Đình, dựng kiểu đó xóm bên không ai làm vậy: đầu kèo gọt tròn hơn, dây cột kiểu khác, quấn theo chiều ngược lại chiều người thuận tay phải hay quấn. Ong đã về đóng tổ từ lâu, tổ lớn bằng cái thúng giạ, mật chảy xuống gốc kèo đen sệt, mùi khác hẳn mật thường: ngọt gắt hơn, đậm hơn, phảng phất một mùi như khói un đã ám lâu năm vô thớ gỗ, cái mùi mà một người gác kèo lành nghề chỉ ngửi một cái là biết ngay có chỗ không ổn.

Tư Đờn đứng khựng lại, không bước tới gần thêm bước nào. Ổng nhìn cây kèo hồi lâu, lâu tới mức thằng Kiển đứng bên tưởng ổng đang tính coi cắt tàng cỡ nào cho gọn. Rồi ổng quay lưng, kêu về.

"Bỏ đi con. Kèo này không phải của mình."

Thằng Kiển dạ, miệng dạ mà bụng không chịu. Mật đen bán được giá gấp ba mật thường, cái đó ai trong nghề gác kèo cũng biết, mấy ghe thương hồ vẫn hay hỏi mua riêng loại mật rừng sâu, giá cao mà không nói lý do vì sao cao. Một cây kèo không tốn công dựng, ong tự về đóng tổ, mật lại ngon hơn hẳn: với một đứa mười sáu tuổi vừa mồ côi vừa nghèo, cái lý do để bỏ qua nghe không đủ nặng bằng cái lý do để lấy.

Đêm đó nó lén trở lại một mình, không đem đèn, chỉ nhớ đường theo hai bụi tràm già mà ban ngày đã ghim vào đầu.

Nó cắt được một tàng mật, không nhiều, giấu trong cái gùi con, đem về giấu sau chái bếp, dưới đống củi khô. Sáng hôm sau lén nếm thử, ngọt thiệt, ngọt tới mức nó ăn liền một hơi hết phân nửa tàng, ăn xong mới giật mình nhìn quanh coi có ai thấy không.

Đêm đó nó nằm mơ.

Mơ thấy mình đứng trên một cái ghe, tay cầm dầm, chèo giữa một khúc sông lạ hoắc, hai bên bờ toàn dừa nước. Trên ghe có một người đàn bà bận áo bà ba đen, ngồi quay lưng lại phía nó, không nói gì. Trong mơ, nó biết rành rẽ mình đang chèo đưa người đó đi đâu, biết cả tên khúc sông, biết cả tên người đàn bà đó. Tỉnh dậy thì quên sạch, chỉ còn lại cảm giác hai cánh tay mỏi nhừ như đêm qua chèo đò thiệt.

Nó không kể cho ai nghe. Vài bữa sau, bụng thèm, nó lại ăn thêm, mật vẫn còn dư dưới đống củi.

Lần này mơ khác. Mơ thấy mình ngồi chép sổ, tay cầm bút lông chấm mực Tàu, chép hoài không hết trang, chép tới khi ngón tay mỏi rã mà cuốn sổ vẫn còn dày cui, chữ nào chữ nấy đều tăm tắp không phải nét chữ của nó. Có ai đó đứng phía sau lưng, không thấy mặt, chỉ nghe giọng nhắc khe khẽ: chép cho hết đi con, đừng chừa dòng nào.

Tỉnh dậy, tay nó thiệt sự mỏi, y như đêm qua cầm bút suốt đêm, dù ngoài đời nó cả năm chưa chắc cầm bút được chục lần, biết đọc biết viết cũng chỉ đủ để chép sổ nợ lặt vặt cho Tư Đờn.

Chín Rỗ kể tới đây, ngưng lại, cầm ly rượu lên nhưng không uống, chỉ xoay xoay trong tay, mắt nhìn ra khoảng tối phía sau lưng đám lửa un.

"Tao hỏi tụi bây, mấy chuyện thằng Kiển nằm mơ đó, có phải chuyện của nó không? Nó đâu có biết chèo đò khúc sông lạ đó hồi nào. Nó đâu có biết chép sổ điền, sổ nợ gì to tát hồi nào. Vậy mà trong mơ nó rành y như chuyện của chính nó, chừng tỉnh dậy mới quên sạch trơn."

Có đứa nhỏ ngồi mép ván hỏi, vậy rồi ông Tư Đờn có hay chuyện không.

"Có chớ. Cỡ chừng nửa tháng sau, Tư Đờn thấy thằng Kiển là lạ. Nó vẫn làm việc bình thường, vẫn dạ vẫn thưa, nhưng mà nó hay đứng khựng nửa chừng câu nói. Kêu tên nó, đôi khi nó phải khựng một chút mới dạ, y như phải lục lại coi cái tên vừa nghe có phải tên mình hông vậy."

Một bữa Tư Đờn hỏi thẳng, có phải mày lấy mật cây kèo đó không. Thằng Kiển đứng chết trân một chỗ, cổ họng nghẹn lại, rồi gật đầu.

Tư Đờn không la, không đánh đòn roi gì hết. Ổng chỉ ngồi thụp xuống bên gốc cây, thở dài một cái dài sọc, rồi kêu thằng nhỏ lại gần, hỏi một câu, giọng nhỏ xíu như sợ có ai khác nghe được:

"Con tên gì?"

Thằng Kiển đứng đó, miệng há ra. Chữ đầu tiên suýt bật lên không phải tên nó, Chín Rỗ nói y chang vậy, "suýt". Rồi nó khựng lại, nuốt xuống, rồi mới nói được đúng tên mình. Cái khoảng khựng đó dài hơn một cái khựng bình thường, dài tới mức Tư Đờn nghe rõ mồn một, và từ bữa đó ổng không bao giờ hỏi lại câu đó thêm lần nào nữa.

Chín Rỗ uống cạn ly, đặt xuống ván nghe cái cạch, ngoắt tay kêu bà Sáu Đằng châm thêm xị nữa.

"Rồi sao nữa ông Chín?"

"Rồi hết."

"Hết là hết sao? Cây kèo đó của ai dựng, ông chưa nói."

"Ai biết. Tư Đờn không nói, tao cũng không hỏi. Có chuyện hỏi ra rồi mắc công nghe câu trả lời, thà đừng hỏi còn ngủ ngon hơn."

Đám thanh niên ngồi im một lát, chỉ nghe tiếng un muỗi lép bép, tiếng ếch nhái ngoài rạch kêu rân.

"Tư Đờn với thằng Kiển vẫn ở đó, vẫn gác kèo, vẫn ăn ong, mùa nào cũng có mật bán đủ ăn," Chín Rỗ nói tiếp, giọng chùng xuống. "Thằng Kiển lớn lên, cưới vợ xóm dưới, có con có cháu, sống thọ tới ngoài sáu chục. Có điều tao nghe nói, hồi nó già, con cháu kêu ông nội ơi, đôi khi ổng cũng khựng lại một chút mới quay đầu lại. Chỉ một chút thôi. Ai không để ý kỹ thì không thấy đâu."

Ổng gãi cái sẹo rỗ trên má, cười cụt ngủn một tiếng, không vui cũng không hẳn buồn.

"Mà thôi, chuyện xưa rồi, kể chơi vậy thôi nghen. Mười hai điều kiêng của Tư Đờn giờ chắc còn ai nhớ nổi đâu, cuốn tập học trò đó chắc mục nát theo ổng dưới đất lâu rồi."

Ổng đứng dậy, phủi đít quần, bước ra phía bờ kinh hứng gió, bỏ lại sau lưng đám lửa un muỗi đang tàn dần thành than đỏ, bỏ lại đám thanh niên ngồi nhìn nhau, không đứa nào buồn hỏi thêm câu gì nữa, vì hỏi rồi thì có khi tối nay khó mà ngủ cho ngon.

Thằng Tám Chảnh ngồi nán lại một chút, rót nốt chỗ rượu còn dư trong xị vô ly mình, uống cạn, rồi cũng đứng dậy về. Trước khi đi, nó ngoái lại nhìn cái un muỗi lần cuối, khe khẽ kêu tên mình trong bụng, một hai lần, coi thử miệng mình có khựng chỗ nào không. Không khựng. Nó thở phào, cười một mình, rồi bước xuống bờ kinh, dọc theo con nước, về nhà ngủ.

Hết Chương 1

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 2
Tiếp →