Cái máng nước gỗ dưới chân cầu thang đóng một lớp váng trắng. Cái gáo Piên để trên thành máng đêm qua dính cứng vào váng, Kình kéo không lên.
Nó đứng trên bậc thang cuối, chân trần, nhìn ra. Sân trắng. Gầm sàn trắng. Mái gianh nhà bên trắng như ai rắc một lớp muối hột lên. Xa hơn, cả sườn nương Pò Fầy trắng một màu, mấy gốc ngô khô đứng như cọc rào sơn vôi.
Ngày thứ năm. Từ sáng hai mươi bốn tới giờ, sáng nào cũng vậy.
Sau nhà, bụi chuối lá cháy rũ, thâm đen từ mép lá vào gân. Hôm qua mẹ Piên nằm nhìn qua khe vách ra bụi chuối, nói một tiếng Tày ngắn, Piên dịch cho nó nghe: chuối chết sương. Rau cải trên nương cháy như bị dội nước sôi. Con trâu nhà Tẳng run cầm cập dưới gầm sàn, không chịu ra. Người già trong bản đi ngang, ai cũng nói một câu: sương năm nay xuống sớm hơn mọi năm, dày hơn mọi năm.
Toòng sốt từ đêm hai mươi bốn. Nó nằm bên bếp, đắp hai lớp chăn chàm, môi khô nứt, mê man gọi "me". Mẹ Piên nằm ở góc trong, ho cả đêm, năm ngày rồi không dậy được.
Thầy Khiêm bắt mạch cho Toòng từ sáng, hai ngón tay run phải tì lên gối mới giữ được yên.
"Sốt rét lạnh," thầy nói. "Ta hạ được nhiệt. Còn cái nó mê, ta không chữa."
"Cái nó mê là sao thầy?" Kình hỏi.
Thầy Khiêm không đáp. Thầy rót thuốc ra chén, thổi.
"Còn dì thì sao thầy?"
"Phổi bà ướt. Ta cho ngủ được." Thầy đưa chén thuốc cho nó. "Con đỡ đầu thằng nhỏ lên. Đỡ bằng cả bàn tay, đừng bằng mấy ngón."
"Nó có nuốt được không thầy?"
"Nó nuốt được thì nó còn khát. Còn khát là còn tốt."
Chị Mông Thị Slương ôm con sang từ chiều qua, bé con cũng sốt, nằm trong lòng mẹ thở khò khè. Chị ngồi xuống, kéo chăn đắp cho cả con mình lẫn Toòng.
"Bếp nhà chị nhỏ, không ấm," chị nói với Kình. "Chị ngồi nhờ."
"Chị cứ ngồi. Bếp này lửa lớn."
"Lửa lớn mà sương vẫn vô." Chị nhìn ra cửa. "Chị lớn lên ở bản này, chưa thấy tháng Chạp nào sương dày thế này."
Hai đứa nhỏ nằm hai bên bếp nhà Piên, giữa là lửa.
Piên bước ra cửa với cái đòn gánh và hai thùng gỗ.
"Gáo dính rồi," Kình nói.
"Thấy rồi."
Cô đi xuống cầu thang, cầm cái chày gỗ giã gạo đập lên váng máng. Váng nứt một đường, không vỡ. Cô đập lần nữa, mạnh hơn. Mảnh băng bắn lên mặt cô.
"Để tui."
"Piên đập được."
"Piên đập vô tay Piên bây giờ."
"Kình đứng xa ra."
Kình đứng xa ra một bước. Piên đập. Váng vỡ thành từng mảng, nước dưới đen và lạnh. Cô múc đầy hai thùng, móc vào đòn gánh, kê vai.
"Đưa tui gánh."
"Kình gánh không quen."
"Tui gánh nước ở Vàm Tre từ hồi bảy tuổi."
"Nước dưới đó không đông."
"Nước đông thì nặng hơn hả Piên?"
Piên đứng lại, đòn gánh trên vai. Cô quay phắt lại.
"Kình đừng hỏi nữa được không? Ngày nào Kình cũng hỏi. Hỏi sương. Hỏi chuối. Hỏi Then. Piên không biết hết đâu mà nè!"
Kình đứng im. Hai thùng nước trên đòn gánh lắc lư, sóng ra mép, đổ xuống chân cô.
"Ờ," nó nói. "Tui không hỏi nữa."
Piên nhìn nó. Môi cô mím lại, cái mím nó biết. Rồi cô đặt đòn gánh xuống, đẩy về phía nó.
"Kình gánh đi."
"Piên nói tui gánh không quen."
"Gánh thì quen. Gánh đi."
Kình kê vai. Nước nặng thật, nặng hơn nước rạch. Piên đi trước, không quay lại, nhưng cô đi chậm, chậm tới mức nó phải bước ngắn lại. Tới chân cầu thang cô giành cái thùng bên trái, xách lên một mình.
"Piên xách. Kình xách cái kia."
Nó không cãi.
Trưa, bà Then Lục Thị Đeo từ đầu bản sang. Bà quấn khăn chàm, ôm cây đàn tính, đeo một chùm xóc nhạc ở cổ tay. Bà ngồi xuống cạnh Toòng, nói gì đó với mẹ Piên, mẹ Piên gật.
Kình ra ngồi ở góc xa, gần cửa. Nó chỉ thấy được bề ngoài. Tiếng đàn tính trầm, tiếng xóc nhạc lắc đều. Khói bếp bốc lên. Bà Đeo hát, giọng thấp, khàn, lên một đoạn thì xuống. Toòng trong chăn trở mình.
Được nửa chừng thì bà dừng. Bà buông đàn xuống chiếu. Xóc nhạc im.
"Lên không được," bà nói bằng tiếng Kinh, nói cho cả nhà nghe. "Qua thác là có giấy chặn."
Bà lắc đầu với mẹ Piên. Mẹ Piên nhắm mắt. Bà Đeo ôm đàn đứng dậy, đi về sớm.
Kình ra hiên. Phía thác Nặm Tẩu, qua lớp sương chưa tan, có một đốm lửa nhỏ. Lửa canh của hai người lính Giám giữ biển Cửa Hai. Đốm lửa đứng yên, không lay.
Chiều, trưởng bản Lương Văn Tẳng sang. Ông cởi dép ở chân thang, nhúng chân vào máng nước vừa đập váng, rùng mình, rồi lên. Ông ngồi xuống bên bếp, cạnh Kình, hai tay chìa vào lửa.
"Tôi nói thật với cậu," ông nói. Tiếng Kinh của ông khá, chậm, rõ. "Hồi tháng Năm tôi muốn thần nương có sắc. Cho được mùa. Giờ tôi vẫn muốn."
"Dạ."
"Thần thác có sắc rồi. Năm nay ruộng dưới thác no. Lễ Giám cho thần ăn no. Cậu thấy rồi đó."
"Dạ, con thấy."
"Mà Then lên không được." Ông nhìn Toòng trong chăn. "Bà Đeo lên không được. Bà Lường thì nằm đó."
"Dạ."
"Tôi không biết cái nào đúng."
Kình ngẫm một lúc. "Ông hỏi thần thác chưa?"
"Tôi không thấy thần. Tôi thấy nước." Ông cười, không vui. "Nước thì không trả lời ai."
Kình không nói nữa. Nó cũng không biết. Nó ngồi cạnh ông, hai người cùng chìa tay vào lửa, không ai nói thêm.
Tẳng về lúc chạng vạng. Thầy Đức ngồi trong góc, quấn chăn, sổ mở trên gối, cả ngày ghi được hai dòng.
Đêm hai mươi tám, Kình đang thiu thiu bên bếp thì nghe tiếng sàn kẽo kẹt ở góc trong. Mẹ Piên chống tay ngồi dậy. Năm ngày bà chưa ngồi dậy được. Bà ho một tràng, nuốt xuống, rồi giơ tay chỉ lên vách.
"Piên. Lấy đàn xuống."
Trên vách cạnh bếp, cây đàn tính ba dây còn hai treo từ hôm đám ông già cuối bản, bầu nậm bám một lớp khói đen bóng. Piên đứng dậy, kiễng chân, hai tay đỡ lấy cần đàn. Cây đàn rời cái đinh.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 85 →