Ba con cá chép đỏ vẫn bơi trong chậu sành.

Khuê dừng ở ngưỡng cửa bếp sau phủ họ Vũ, tráp giấy ôm trước ngực, đèn lồng trong tay người hầu đi trước đã rẽ ra phía cổng. Trời chưa sáng. Bát hương trên mâm cúng bếp cháy đều, ba que đỏ lừ. Bên cạnh là bộ mũ giấy cánh chuồn, áo giấy, hia giấy, xếp ngay ngắn như lúc mẹ cô đứng khấn chiều qua. Không ai hóa.

Chị bếp đang thổi lửa, nghe tiếng giày thì quay lại, mặt tái đi.

"Cô Khuê. Cô đi sớm vậy cô."

"Cá này sao còn ở đây, chị?"

"Tối qua cúng xong, em bưng ra hồ thả đó cô." Chị bếp lau tay vào vạt áo, lau mãi. "Thả xuống là nó nhảy ngược vô chậu. Em thả lần nữa, nó nhảy nữa. Ba lần. Em sợ quá em bưng về."

"Cá nhảy ngược vào chậu."

"Dạ. Ông Táo không cưỡi thì cá về nhà chớ đi đâu, cô."

"Mẹ ta biết chưa?"

"Dạ chưa. Bà còn ngủ. Cô đừng nói giùm em."

Khuê nhìn ba con cá. Một con nổi lên đớp bọt, vây lưng chạm thành chậu. Cô không nói gì. Cô gật đầu với chị bếp một cái rồi đi ra cổng.

Kho sổ Sùng Văn Giám mở cửa giờ Mão. Hằng năm vào sáng hai mươi bốn tháng Chạp, cái bàn dài đầu kho, bàn tiếp phiếu Thiên Tào của Nam Tào Vụ, chất giấy cao tới vai người. Phiếu từ các bếp dưới xuôi gửi lên theo đường ông Táo, thư lại Thiên Tào chuyển xuống bản sao, kho sổ Giám đối chiếu. Năm ngoái Khuê chưa vào kho, cô chỉ nghe kể.

Năm nay cái bàn trống trơn.

Ông thư lại già giữ chìa kho ngồi trước cái bàn trống, lưng còng, tay vẫn cầm sẵn cái bàn tính gỗ. Hạt bàn tính nằm gọn một bên, chưa gảy hạt nào.

"Thưa ông, chưa có phiếu nào ạ?"

"Chưa." Ông già không ngẩng lên. "Năm ngoái giờ này đã chín trăm phiếu."

Từ giờ Mão tới giờ Tỵ, người đưa thư của Giám chạy về từ các phường, mỗi chuyến một tờ giấy, không có phiếu, chỉ có danh sách. Phường Đông Tác: bốn mươi hai bếp không gửi. Phường Hàng Lược: sáu mươi bảy. Khuê ngồi chép danh sách những nhà mà bếp không gửi phiếu lên, nét nhỏ, đều, mực mài sẵn từ tối. Danh sách dài ra theo từng chuyến.

Bàn bên, Trịnh Khắc Uẩn ngồi quấn khăn len hai vòng quanh cổ. Hắn theo Học chính Thạc xuống núi từ đầu mùa rét mà vẫn còn ho. Cứ chép được mấy dòng hắn lại quay mặt đi ho một tràng.

"Đồ có sắc mà quên ơn trên," Uẩn nói, gác bút. "Cô thấy không, cô Vũ. Ăn lộc vua bao đời, tới ngày phải đi thì bãi việc."

"Huynh nói ai?"

"Táo chứ ai. Táo cả nước."

"Huynh đã đọc phiếu khai mẫu mới chưa?"

"Mẫu mới?"

"Mẫu Nam Tào Vụ ban xuống từ đầu năm. Bếp nào cũng phải dùng mẫu đó để khai năm nay."

"Tôi ở trên núi nửa năm, cô biết rồi." Uẩn ho. "Mẫu mới thì có gì khác. Thì khai."

Khuê mở tráp, lấy ra một tờ giấy gấp tư, mở ra, đặt lên bàn hắn, ngón tay chỉ vào dòng thứ bảy. Cô đọc, giọng đều, không nhanh không chậm.

"Kỳ kết sổ năm nay, phàm những dòng ghi không rõ, bếp phải xóa bỏ, hoặc khai cho rõ tên, rõ loài, rõ nguồn gốc. Dòng nào để không rõ, Thiên Tào trả về, bếp ấy chịu lỗi."

Uẩn nhìn dòng chữ. "Thì đúng phép. Sổ thì phải rõ."

"Thưa huynh, một bếp có thể có con mèo hoang ngủ nhờ, có ông lão ăn mày ghé nằm một đêm mưa. Bếp không biết tên, không biết từ đâu tới. Bếp ghi không rõ. Mẫu mới bắt bếp xóa."

"Xóa thì xóa. Mèo hoang thì cần gì vào sổ."

"Huynh cho rằng ông Táo nào cũng nghĩ như huynh?"

Uẩn mở miệng, ngậm lại, rồi ho. Hắn kéo khăn lên che miệng.

"Cô nói như thể cô bênh chúng nó."

"Muội không bênh ai. Muội đọc cho huynh nghe dòng thứ bảy." Khuê gấp tờ giấy lại. "Huynh hỏi vì sao thì đây là một chỗ để tìm."

Ông thư lại già gảy một hạt bàn tính, chỉ một hạt, rồi gảy về. "Hai năm trước có ba bếp trễ phiếu. Ba bếp. Cả kho đi hỏi."

"Năm nay thì sao ạ?" Khuê hỏi.

"Năm nay cô đếm giùm tôi. Tôi già rồi, tôi không dám đếm."

Gần trưa, chuyến thư cuối buổi về, mang theo một bọc giấy dày buộc dây gai, danh sách các trấn dưới xuôi chuyển lên bằng ghe nhanh. Người đưa thư đặt bọc lên bàn trống, thở dốc.

"Trấn nào cũng vậy. Không có bếp nào lên."

Khuê cởi dây. Danh sách các trấn xếp theo đường sông, không theo giờ. Cô lật ngược chồng giấy, tìm cột ngày giờ, so từng tờ. Giờ Mùi ngày hai mươi ba. Giờ Mùi. Giờ Ngọ ba khắc. Cô lật tiếp, tới tờ của trấn xa nhất, ở tận cuối miệt sông, giấy mỏng, mực nhòe vì hơi nước.

Dòng đầu tiên, giờ Ngọ ngày hai mươi ba. Sớm hơn mọi dòng khác trong cả chồng giấy.

Nhà bà Tư Nhài, đã mất. Ấp Vàm Tre, quán Thất Sơn.

Bên lề, thư lại trấn ghi thêm một dòng nhỏ hơn, nét vội:

Táo nhà này không lên, nói lại với các bếp lân cận là năm nay khỏi lên.

Khuê đặt ngón tay lên dòng đó.

Cô để ngón tay ở đó lâu. Mực khô, hơi nhám dưới đầu ngón. Cô nhớ cái chái sau nhà bà Tư, mùi khói, cục đầu rau có ông Táo râu cháy một bên. Cô nhớ ông giơ bốn ngón tay đen nhẻm, khoe bốn chục năm làm Táo nhà ấy. Từ ngày có Cộc ở chái sau, năm nào ông cũng khai một dòng.

"Cô Vũ, cô làm gì mà ngồi im vậy?" Uẩn hỏi.

"Muội chép."

Cô cầm bút, chấm mực, chép dòng đó vào danh sách của mình. Không sai một nét. Cả dòng ghi chú bên lề, cô cũng chép.

Ông thư lại già nghiêng đầu nhìn qua. "Vàm Tre ở đâu vậy cô?"

"Thưa ông, ở miệt dưới. Xa lắm."

"Xa vậy mà lên trước." Ông gảy một hạt bàn tính, lần này không gảy về. "Lạ."

Ngoài cửa kho có tiếng giày. Người hầu phòng của Học chính Vũ Đạt Chi đứng ở khung cửa, ánh sáng xám sau lưng, hai tay khoanh trước bụng.

"Thưa cô. Học chính dặn cô đem danh sách sang phòng Tế Tửu. Các Học chính đang họp. Cô ngồi ghi biên bản."

Hết Chương 81
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 82 →
← TrướcTiếp →