Khuê đặt ba tờ giấy lên sàn trước bếp nhà Piên, xếp thẳng hàng như người bày bài, rồi ngồi xuống chờ.

Lửa bếp đã được chêm củi. Mẹ Piên đi ngủ sớm, Toòng bị đuổi qua nhà hàng xóm. Trong gian giữa còn Kình, thầy Đức, Piên ngồi riêng ở góc bện giỏ bằng sợi dây tre, và Khuê, quỳ thẳng trước ba tờ giấy son như quỳ trước bàn thờ.

"Huynh. Thưa thầy." Cô chỉ vào tờ bên trái. "Đây là sắc thần thác Nặm Tẩu của đoàn. Tờ giữa là sắc mốc bến sông năm trước. Tờ thứ ba muội chép."

"Chép để làm gì?" Kình hỏi.

"Để so. Huynh coi chữ phong ở dòng ba."

Kình cúi xuống. Nó nhìn tờ trái, nhìn tờ giữa. Nhìn mãi vẫn chưa thấy gì khác nhau, rồi nó thấy. Nét phẩy dài đúng một độ. Chấm mực thừa nằm cùng cạnh chữ nhân. Cái móc chữ thần gãy cùng một góc.

Nó không bỏ mắt ra được. Hai tờ như một tờ nhìn hai lần.

"Giống," nó nói.

"Giống từng nét," Khuê đáp.

"Vậy một người viết hai lần?"

"Một người viết hai lần cũng không giống vậy, huynh. Muội đã viết. Huynh xem tờ thứ ba."

Kình nhìn tờ cuối. Nét chữ đẹp, nghiêm, quen thuộc vì nó từng đọc thư của Khuê. Nhưng nét phẩy dài hơn một chút. Chấm mực không có. Cái móc không gãy. Mười mấy chỗ nhỏ, nhìn riêng thì không thấy, nhìn cạnh nhau thì lộ.

"Tờ của muội khác."

"Mười bốn chỗ." Khuê nói. "Muội cố viết giống. Càng cố, càng khác."

"Muội có so mấy tờ khác không?"

"Mới hai tờ này. Muội chỉ được mở sổ đoàn."

"Vậy sổ đoàn còn tờ nào?"

"Tám tờ sắc đã vào sổ từ đầu năm. Muội chưa so hết." Khuê ngập ngừng. "Muội không chắc nên so tiếp."

"Sao không chắc?"

"Vì muội sợ so xong thì hết còn chỗ để nghĩ rằng huynh lo thừa."

Kình thấy bàn tay mình lạnh. Nó xòe ra hơ trên bếp, không thấy ấm lên.

Thầy Đức đã đặt cuốn sổ lên đùi, nghiêng người cầm hai tờ giấy lên, một tay mỗi tờ. Thầy đưa chúng ra ánh lửa, đặt chồng lên nhau, nhìn xuyên. Lửa nhảy trên mặt giấy son, sáng đỏ. Rất lâu, không ai nói gì.

"Thầy," Kình nói.

Thầy Đức đặt hai tờ xuống sàn. Thầy nhìn chúng, rồi nhìn Khuê, rồi nhìn Kình.

"Tôi chịu không biết."

Hai ngón tay trái của thầy nằm yên trên đùi. Kình nhìn hai ngón tay đó, nhìn thật lâu. Chúng không gõ.

"Thầy không đoán được?" Khuê hỏi.

"Tôi có thể đoán. Đoán không phải biết."

"Thầy từng thấy giấy giống nhau như thế chưa?"

"Chưa." Thầy Đức nói nhỏ. "Bấy nhiêu năm đi tuần vùng. Chưa."

Trên vai Kình, Cộc nhô cái mặt lông xù xuống nhìn ba tờ giấy, cái mõm gần chạm giấy. Nó hít một hơi.

"Giấy giống giấy thì có gì lạ," nó nói. "Người giống người mới lạ."

Khuê nghe. Cô không cười, không phản ứng, chỉ quay đầu nhìn Kình, rất khẽ. Kình cũng nhìn lại. Hai người im.

"Cộc nói vậy là sao?" Kình hỏi nhỏ.

"Tao nói giấy thôi."

"Cộc nói người."

"Tao nói cho vui." Cộc co mình lại. "Mày nghe làm chi."

Thầy Đức gấp hai tờ chính lại, giữ trong lòng bàn tay. "Hai tờ này," thầy nói với Khuê, "là bản của đoàn. Cô chép để làm việc thì cô trả lại đủ."

"Dạ, con trả."

"Không thiếu một nét."

"Không thiếu một nét."

"Thầy," Kình nói, "thầy có nói với ông Thạc không?"

"Nói gì?"

"Nói giấy giống nhau."

"Giấy giống nhau không phải việc tuần vùng." Thầy Đức vuốt hai tờ trong lòng bàn tay. "Tôi ghi việc, không ghi điều chưa biết."

"Vậy ai ghi?"

"Ai biết thì ghi."

"Chưa ai biết."

"Thì chưa ai ghi." Thầy nhìn nó. "Cậu đừng nóng."

"Con đâu có nóng."

"Cậu đang xoa bàn tay."

Kình ngừng xoa. Nó nhét tay vào nách.

"Tờ của cô, cô giữ. Đừng cho ai xem."

"Con hiểu."

Từ góc nhà, Piên đang bện giỏ, tay đưa sợi dây qua kẽ tre, mắt không ngẩng. Khuê quay sang cô.

"Piên."

"Hả."

"Piên từng thấy mấy tờ như vầy ở bản khác chưa?"

Sợi dây trong tay Piên dừng một nhịp, rồi tiếp tục. "Thấy."

"Ở đâu?"

"Thung lũng bên. Dán trên cột đầu bản."

"Piên có đọc không?"

"Piên không đọc." Cô kéo sợi dây thật chặt. "Piên chỉ thấy giấy đỏ."

"Giấy đỏ giống thế nào?"

"Piên không biết. Giấy đỏ thì giống giấy đỏ."

"Ai mang tới?" Kình hỏi.

"Lính áo xanh."

"Lính của đoàn mình?"

"Không. Lính khác." Piên cắn đứt đầu sợi dây. "Piên chỉ thấy từ xa."

Khuê gật. Cô không hỏi thêm. Kình nhìn Piên một lúc rồi nhìn lại ba tờ giấy. Nó thấy trong ánh lửa, cổ tay Piên gồng lên khi bện, gân nổi rõ.

Thầy Đức mở sổ trên đùi, lật tới một trang trống. Thầy chấm bút, nhưng không viết. Thầy ngồi nhìn trang giấy trắng một lúc lâu.

"Thầy ghi gì?" Kình hỏi.

"Chưa."

"Thầy không ghi?"

"Chưa biết ghi gì." Thầy gác bút. "Nếu tôi ghi sai, sổ sai. Sổ sai thì còn tệ hơn sổ trống."

Khuê gom hai tờ chính, xếp ngay ngắn, trả vào sổ đoàn mà thầy Đức đưa. Cô giữ tờ chép tay của mình, gấp làm tư, nét giấy sắc như dao. Cô mở nắp tráp, đặt tờ giấy vào một ngăn nhỏ ở góc. Trong đó đã có sẵn một mẩu giấy cháy xém, đen ở rìa, màu son nhạt, nằm co như cái lá khô.

Cô để tờ chép cạnh mẩu giấy cháy, đóng nắp lại.

Kình thấy hết. Bên cạnh nó, củi trong bếp nổ lách tách, một đốm than bắn ra sàn, nằm đỏ giữa kẽ giát tre rồi tắt. Khuê cài nắp tráp, hai ngón tay đè lên nắp một lúc lâu mới buông.

Hết Chương 73
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 74 →
← TrướcTiếp →