Kình buộc lại quai dép bằng sợi lạt, trong bếp còn tối, ngón tay vụng như ngón tay người mới học thắt nút.
Ba nắm cơm nguội gói lá dong nằm sẵn trên gác bếp, mẹ Piên để từ chiều hôm trước. Lèng, Piên gọi vậy. Kình nhét hai nắm vô bọc, giữ một nắm trong tay áo. Nó không đánh thức ai. Cộc nhảy lên vai nó, ngáp, lông còn ấm hơi bếp.
"Đi đâu sớm vậy?" Cộc hỏi.
"Lên nguồn."
"Ai bảo?"
"Không ai." Kình khép cánh cửa sàn thật nhẹ. "Con muốn coi."
"Coi cái gì?"
"Cửa Ba."
"Cửa Ba chưa có ai." Cộc gãi cằm bằng khúc tay cụt. "Mày đi coi cái không có."
"Tao đi coi cái không có."
Nó theo suối ngược lên khi trời còn xám. Qua nương ngô, qua chòi canh, lên tới thác Nặm Tẩu thì mặt trời vừa nhô khỏi vách đá. Tấm biển "Cửa Hai" dựng sát gốc cây, sơn đỏ chói giữa đám rêu xanh. Thần thác ngồi ngủ trên mỏm đá, bụng tròn như cái trống, miệng há nhỏ, ngáy khò khè.
Kình rón rén đi ngang. Nó bước trên đá khô, tay nắm vạt áo cho khỏi kêu.
"No ngủ," Cộc nói, nhỏ như hơi thở. "Thần cũng như người."
"Cộc đừng nói."
"Tao nói với con chuồn chuồn."
Thần thác trở mình, miệng chép chép. "Thêm miếng nữa," ông lầm bầm trong giấc ngủ. "Miếng thịt ba chỉ..."
Kình khựng chân. Cộc bấu vô vai nó.
"Thấy chưa," Cộc thì thào. "Mơ ăn."
"Tao xin lỗi ổng."
"Thần ngủ không nghe xin lỗi."
"Tao xin cho chắc."
"Xin cho chắc là xin cho mày. Đi."
Qua thác là dốc đứng, bám rễ cây mà leo. Hai khúc đá trơn. Một chỗ phải bò. Kình nhai nắm cơm giữa đường cho đỡ mệt, chia nửa cho Cộc. Gần trưa nó mới lên tới nguồn.
Nguồn Bó Khoăn không giống gì nó tưởng. Không có hang, không có miếu. Chỉ một khe đá nứt ra, nước rỉ từ vết nứt xuống một cái vũng nhỏ trong như thủy tinh, rêu xanh bám quanh miệng. Không cây nào bị đóng đinh. Không tấm biển. Không tờ sắc dán gốc đá.
Kình đi một vòng quanh vũng. Nước lạnh, hít vô mát phổi.
"Có ai không?" nó gọi.
Không ai đáp. Chỉ có tiếng nước nhỏ giọt, đều, đều.
"Có ai không?"
Gió thổi ngang. Một chiếc lá rơi xuống mặt vũng, xoay hai vòng rồi trôi.
"Không có," Cộc nói.
"Tao biết."
"Mày kêu làm chi?"
"Tao muốn chắc."
Nó ngồi xuống tảng đá cạnh vũng, bóc nắm thứ hai, chia Cộc một nửa. Hai đứa ngồi nhai, nhìn nước. Nước chảy ra khỏi vũng thành một dòng nhỏ, quẹo ba khúc quanh gốc đá rồi mất sau rặng cây.
"Giống," Kình nói.
"Giống gì?"
"Khúc rạch về nhà ngoại." Nó chỉ khúc quẹo thứ nhất. "Chỗ này quẹo... trái. Chỗ này..." Nó khựng lại. "Chỗ đó có cây gì ta."
"Cây gì?"
"Không biết. Cộc có nhớ không?"
"Hỏi tao làm chi." Cộc nhai xong miếng cơm. "Tao ngồi vai, tao đâu có chèo."
"Tao tưởng Cộc ngồi vai nhìn."
"Nhìn không có nghĩa là nhớ."
Kình cố kể lại. Bến, rồi một con rạch, rồi... Nó thấy một dòng nước, một hàng cây, nhưng cây đó nằm bên trái hay bên phải, đi qua trước hay sau cái miễu, nó không kéo ra được. Nó nhíu mày cho tới khi đau đầu. Rồi nó cười, xua tay.
"Thôi kệ. Nhớ làm chi."
Cộc nhìn nó, không nói.
Xuống tới chân thác thì mặt trời đã ngả. Thầy Đức ngồi trên một tảng đá bên bờ, cuốn sổ mở trên đùi, bút gác ngang.
"Thầy theo con hả?"
"Tôi đi sau một quãng. Đúng phép."
"Một quãng là bao xa?"
"Đủ xa để cậu khỏi thấy. Đủ gần để tôi nghe nếu cậu kêu."
"Con có kêu."
"Tôi nghe." Thầy Đức gật. "Cậu hỏi có ai không. Không ai đáp. Tôi cũng không đáp, vì cậu không hỏi tôi."
"Thầy ngồi đây từ lúc nào?"
"Từ lúc cậu qua thác. Tôi chờ."
"Thầy chờ làm chi?"
"Cậu leo hết một buổi. Cậu xuống sẽ mệt." Thầy Đức chỉ cái bầu nước đặt cạnh đá. "Uống."
Kình uống một hơi. Nước ngọt, có mùi lá.
Kình ngồi xuống cạnh thầy, hơi thở còn dốc. Nó nhìn dòng nước dưới chân thác một lúc, rồi hỏi.
Nó mò vào bọc, rút mẩu giấy chép hôm trước. Chữ vẫn đó, nét nó viết, mà đọc lên như đọc đường nhà người lạ.
"Thầy, đường rạch về ấp Vàm Tre. Từ sông lớn rẽ vô."
Thầy Đức không hỏi vì sao. "Rạch rẽ từ sông lớn ở một cây dừa nước đổ. Chèo vô, qua hàng tràm hai bên. Tới cây bần nghiêng thì quẹo phải."
"Quẹo phải."
"Quẹo phải. Qua cái miễu mái ngói rêu thì bám bờ trái, chèo thẳng cho tới rặng dừa. Sau rặng dừa là bến."
Kình nghe. Từng chữ chui vô tai, ngay ngắn, sáng sủa. Nhưng chúng không chạm vô đâu. Chúng nằm đó, trên mặt nước, không có đáy.
"Con đọc được rồi," nó nói.
"Cậu không nhớ."
"Dạ."
"Không sao. Tôi nhớ giùm." Thầy Đức nói rất bình thản. "Việc của người chèo là nhớ đường."
Kình ngó xuống tay mình. Nó không hỏi thêm.
Thầy Đức mở sổ, chấm bút, viết trước mặt nó, nét chữ đều đặn.
Người bị áp tải lên nguồn. Không làm gì.
Kình đọc, gật.
Thầy viết thêm một dòng nhỏ bên dưới, chữ bé hơn, chỉ vừa đủ để nó nhìn thấy.
Hỏi đường về nhà.
"Hai dòng, hai việc," thầy nói. "Dòng trên là việc tuần vùng. Dòng dưới là việc của tôi."
"Việc của thầy mà ghi vô sổ tuần vùng được hả?"
"Sổ của tôi. Tôi ghi gì cũng đúng phép."
"Thầy ghi vậy để làm chi?"
"Để mai cậu hỏi lại, tôi còn biết cậu đã hỏi hôm nay."
Kình cầm lấy cuốn sổ từ tay thầy, khép lại cẩn thận như đóng nắp một cái hũ, rồi đặt nó trở về đùi thầy.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 70 →