Toòng bóp một nắm xôi, xoa lên mũi con trâu, rồi nhét phần còn lại vô miệng nó.
Trâu nhai chậm, nước dãi chảy dài. Toòng nói với nó bằng tiếng Tày, giọng nhỏ và đều như nói chuyện với ông nội. Kình đứng cầm dây thừng, hai tay giữ chắc. Con trâu quay đầu liếm luôn bàn tay nó, cái lưỡi nhám như tấm đá mài.
"Nó thương anh," Toòng nói.
"Nó thương xôi."
"Thương xôi, thương anh. Giống nhau."
"Hôm nay mùng sáu hả?" Kình hỏi.
"Khoăn vài." Toòng gật, nghiêm trang. "Vía trâu. Hôm nay trâu được ăn xôi. Không đi cày."
"Trâu sướng hơn người."
"Trâu làm cả năm. Người làm cả đời."
Kình mở miệng định đáp thì nghe tiếng vó ngựa. Không phải một con. Tiếng móng nện lên đá, lẫn tiếng chuông cổ ngựa leng keng, vọng từ phía đèo dội xuống. Con trâu vểnh tai. Toòng bỏ nắm xôi, chạy ra bờ ruộng.
Một đoàn người đi xuống dốc. Mười con ngựa thồ, dây buộc hàng ken ken. Dắt ngựa là một ông Mường mặc áo cánh nâu, râu lơ thơ, tay cầm roi tre chỉ để chỉ hướng. Phía sau là sáu người lính Giám áo xanh, đội nón dẹt, vai đeo gói. Giữa đoàn, hai người khiêng một cặp gánh lễ phủ vải đỏ. Người đi cuối cùng ôm một ống tre dài sơn son, ống sắc.
Thạc ra đón ở đầu bản. Ông đứng thẳng, chắp tay, đợi đoàn dừng. Người đội trưởng lính trao ống sắc. Thạc mở nắp, rút cuộn giấy ra đọc, giọng đều, từng chữ chắc.
"Thái Ninh năm thứ mười bảy, phụng sắc: phong Nặm Tẩu thủy thần, hưởng lễ hằng năm, y phẩm mà thi hành."
Dân bản đã tụ lại, đứng im. Kình thấy Tẳng từ nhà bước ra, mặt sáng lên. Ở góc hiên, bà Then Lục Thị Đeo đứng dựa cột, hai tay khoanh. Không nói gì, không động đậy.
Thạc đọc xong, cuộn giấy lại. Ông quay sang Kình, nói ngay trước mặt cả đoàn.
"Lần này cậu không cần nói."
Kình chưa hiểu hết. "Con có được đi không?"
"Theo quy định, tùy hành đi theo đoàn. Cậu đi." Thạc dừng một nhịp. "Xin cậu hiểu cho, chỉ đi."
"Đi mà không nói thì con đi làm gì?"
"Đi để thấy."
"Thấy thì ông cần con chi?"
"Tôi không cần." Thạc nhìn thẳng vô mắt nó, rất bình thản. "Quy định cần."
Không có giận trong giọng ông, cũng không có cười. Kình gật, không cãi nữa.
Tẳng đã chạy tới, hai tay chắp trước ngực, nói tiếng Kinh to rõ. "Ông Học chính. Tôi xin góp một con lợn cho lễ."
"Ông không cần."
"Cần. Thác no thì ruộng no." Tẳng cười, răng đen. "Nhà tôi nuôi lợn đen. Con to. Có thịt."
"Tôi xin ghi vào sổ là bản góp."
"Ghi, ghi." Tẳng gật gật. "Ghi cho thác nghe."
Thầy Đức đứng ngoài đám đông, tay cầm sổ. Thầy bước tới khi Thạc vừa nói xong.
"Ngày nào lên thác?"
"Ngày mười."
Thầy Đức ghi. Ngòi bút chạy một nhịp rồi dừng. Thầy không hỏi thêm.
Kình lách qua đám người tới bên thầy. "Thầy nghe ông Học chính nói chưa? Con đi mà không được nói."
"Tôi nghe."
"Thầy thấy sao?"
"Cậu đừng hỏi tôi thấy sao." Thầy Đức không ngẩng lên. "Cậu hỏi tôi ghi sao."
"Thầy ghi sao?"
"Ngày mười, người bị áp tải đi theo đoàn kiểm kê, không phát ngôn." Thầy thổi mực. "Đúng phép."
"Nghe như con bị cột miệng."
"Cậu không bị cột. Cậu được dặn."
"Dặn với cột khác gì?"
"Dặn thì cậu tự nhớ. Cột thì người ta nhớ giùm." Thầy Đức khép sổ. "Cậu chọn cái nào là việc của cậu."
Kình quay lại chỗ con trâu. Cộc nhảy xuống từ nóc chuồng, đáp lên vai nó, cái đuôi lông xù phủ ngang cổ.
"Tụi nó đem lễ to dữ," Cộc nói. "Con thần nào đói cũng mở cửa."
"Thì để ổng chọn."
"Ờ. Chọn." Cộc nhổ một cọng rơm. "Chọn khi bụng réo."
"Cộc nói như ông thần nào cũng đói."
"Thần nào cũng có bụng. Ở dưới xuôi tao thấy hoài."
Mẹ Piên không ra khỏi nhà. Kình ngoảnh về phía cầu thang, thấy cánh cửa sàn khép hờ, bên trong có bóng đèn dầu. Piên đứng ở bậc thang thứ bảy, lưng dựa cột, mắt nhìn đoàn ngựa, tay nắm tay. Cô không nhìn nó. Nó định đi tới, rồi lại thôi.
Người Mường dắt ngựa đi ngang, dừng lại trước Kình, nhe răng cười chào. Ông tên Thồng, Quách Văn Thồng, cho thuê ngựa dưới xóm Rộc Chiêng. Kình biết mặt ông từ hồi qua đó.
"Cậu còn ở bản?" ông Thồng hỏi.
"Dạ còn."
"Ông Mo hỏi thăm cậu."
"Ông Mo khỏe không bác?"
"Khỏe. Ông bảo nhờ nói: đường còn đó." Ông Thồng vỗ cổ con ngựa gần nhất. "Tôi không hiểu. Ông bảo vậy thì tôi nhắn vậy."
"Con hiểu. Cám ơn bác."
"Ngựa tôi chở giấy nhẹ, chở lễ nặng," ông Thồng nói thêm, nhìn đống gánh. "Lần này nhiều lễ. Không biết cho ai ăn."
Kình không đáp. Ông Thồng dắt ngựa đi.
Lính dỡ hàng khỏi lưng ngựa. Gánh lễ đặt xuống đất, vải đỏ bóc ra, lộ ba mâm đồng, một bó hương lớn, một con gà trống cột chân. Mấy người lính khiêng thêm một tấm gỗ lớn bọc cói. Họ đặt nó nghiêng vào chân con ngựa đầu đoàn rồi gỡ lớp cói.
Là một tấm biển gỗ. Hai chữ Nho đỏ chói, khắc sâu, sơn son còn mới, ngửi được mùi sơn.
Lính dựng nó tựa vào gốc cây trước nhà trưởng bản cho mọi người xem. Dân bản kéo lại. Vài người sờ vào nét khắc, rụt tay ngay vì dính sơn.
Toòng chạy tới đứng cạnh Kình, ngẩng cổ nhìn. "Chữ gì?"
Kình đọc. "Nhị Môn. Cửa Hai."
"Cửa Hai?" Toòng nhíu mày, mặt tối lại. "Không phải."
"Biển ghi vậy."
"Không phải." Toòng giậm chân xuống đất, ngón tay trỏ chỉ về phía đầu nguồn nước. "Chỗ đó là thác."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 66 →