Thầy Đức quấn dây ghe vô cọc bến ba vòng. Thầy giật thử hai cái, kéo căng, nghe dây kêu. Rồi thầy mới gật đầu cho người lên bờ.
Sáng mười bốn tháng Hai. Sương còn đọng trên mặt sông Cái, mỏng như lớp sữa. Phía trên bến, mái ngói Thăng Long xếp từng tầng, xám xanh.
"Kịp rồi," Piên thì thào, mắt nhìn mấy hạt đậu trong lòng bàn tay.
"Trước một ngày," thầy Đức nói. "Tôi ghi."
Quán chè bà Tư Hến nằm ở đầu ngõ Giám, mở từ canh ba. Mùi mực Tàu quyện mùi giấy dó ẩm từ cái xưởng sát vách, và trên hết là mùi đậu đỏ nấu nhừ ngọt lịm. Bà đứng sau cái nồi lớn, một tay cầm vá, một tay lau mồ hôi bằng khăn vắt vai.
Bà ngước lên. Nhìn Kình một lần. Nhìn thêm lần nữa.
"Thằng áo vá!"
Cái vá đập xuống vai nó cái bốp. Kình loạng choạng.
"Dạ, bà Tư."
"Mày đỗ rồi! Tao nghe cả phố nói. Thằng áo vá ở Vàm Tre đỗ Hương, chữ không đọc nổi mà đỗ." Bà múc chè vô chén đầu tiên. "Ngồi. Ngồi hết."
"Bà Tư, con..."
"Đỗ rồi thì ăn mừng. Chớ còn thi đâu mà kiêng."
Kình hết đường cãi. Nó ngồi xuống chiếc ghế dài. Piên ngồi bên, Khuê ngồi đầu bên kia, thầy Khiêm chậm rãi hạ người xuống ghế như hạ một cái bình quý. Thầy Đức đứng.
Bà Tư Hến múc ba chén cho ba đứa nhỏ, rót cho thầy Khiêm một chén trà nóng, đặt xuống bàn.
Piên giơ bốn ngón tay lên.
Bà Tư Hến nhìn bốn ngón tay. Bà không nhìn chỗ khác, không nhìn trên vai Kình, không hỏi. Bà múc thêm chén thứ tư.
"Để cúng ai thì cúng," bà nói.
Bà đặt chén đó ngay mép bàn, sát chỗ Kình ngồi. Cộc nhảy xuống từ vai Kình, bám mép bàn, kéo cái chén về phía mình. Kình nghiêng người che.
"Con ăn đi chớ," bà Tư nói.
"Dạ, dạ."
"Hai tay ôm chén làm gì?"
"Dạ, con... lạnh."
"Mười bốn tháng Hai, lạnh gì?"
"Dạ, nay lạnh nhiều, bà."
Piên cắn cái muỗng, cố nín. Khuê đưa tay áo che miệng. Phía sau mép bàn, cái đầu lông xù của Cộc ngoi lên, dính một vệt đậu đỏ.
"Mày dưới đó ăn gì mà gầy vậy?" bà Tư hỏi, chống vá lên hông.
"Dạ, cá lóc nướng trui, bà."
"Cá lóc không đủ mỡ. Chè tao nhiều mỡ dừa. Ăn thêm đi."
"Dạ, con ăn."
"Còn cô này." Bà chỉ vá về phía Khuê. "Con nhà quan phải không? Ngồi quán lề đường không sợ bẩn áo?"
"Thưa bà," Khuê nói, hai tay đặt gọn trên gối, "chè của bà nổi danh khắp Giám. Bẩn áo là chuyện nhỏ."
"Con nhỏ này nói chuyện như đọc sớ."
"Khuê nói vậy với hết thảy mọi người," Piên bảo. "Với con gà cũng vậy."
"Muội không nói với gà."
"Nói rồi. Hôm ở bến, Khuê nói với con gà trống: thưa ngài, xin ngài tránh lối."
"Ngài ấy đứng chắn đường."
Bà Tư Hến cười sằng sặc, tay ôm cái bụng, vá chè rung lên. Thầy Khiêm hớp trà một ngụm nhỏ, mắt cong lại. Kình liếc xuống bàn, nơi chén thứ tư vơi đi một nửa mà không ai đụng muỗng.
Thầy Đức lấy trong áo ra mấy đồng tiền, tính xong, đặt lên mép bàn. Một phần cho thầy, một phần cho thầy Khiêm.
"Đúng phép," thầy nói. "Tôi không đỗ gì. Tôi trả."
"Ông trả cái gì?" Bà Tư Hến gạt tiền xuống. "Hôm nay ăn mừng."
Thầy nhặt tiền lên, đặt lại.
Bà gạt xuống.
Thầy nhặt lên, đặt lại.
"Trời đất ơi," bà nói. "Ông này."
Lần thứ ba, thầy Đức đặt xuống thật chậm, ngón tay ấn nhẹ lên mép bàn cho đồng tiền không lăn. Bà Tư Hến nhìn thầy một lúc lâu. Rồi bà thở ra, thu tiền vô túi.
"Được. Ông trả. Tui nhận." Bà quay lại nồi, múc thêm một chén, đặt trước mặt thầy. "Chén này tui mời. Khỏi trả."
Thầy Đức nhìn chén chè.
Chè bốc khói mỏng. Mấy hạt đậu đỏ nằm dưới đáy, bóng. Thầy nhìn lâu hơn người ta nhìn một chén chè. Rồi thầy ngồi xuống cuối ghế, cầm muỗng.
"Tôi ghi," thầy nói. "Một chén, không trả."
"Ghi đi," bà Tư Hến nói. "Ghi cho nó đầy cuốn sổ."
Gần giờ Ngọ, cả đoàn đứng trước bức tường rêu sau hậu cung Văn Miếu. Rêu xanh đậm, ẩm, bám dày kẽ gạch. Khói nhang từ mấy cái lư hương trong sân vọng lại, quện mùi hương trầm.
Thầy Đức đứng bên trái Kình, thầy Khiêm bên phải. Piên đứng sau, cái gùi đã đeo lên vai. Khuê ôm tráp.
Chuông Văn Miếu dương gian ngân lên. Một tiếng, hai tiếng, từ rất xa dội tới. Không khí quanh bức tường đặc lại, nặng như nước sệt, rồi từ từ mở ra như tấm màn kéo.
"Kình," Piên nói nhỏ. "Kình run không?"
"Không."
Nó nói thật. Lần trước nó đứng đây, đầu gối nhũn như bún. Lần này hai bàn chân đứng yên trên đất.
"Giỏi," Piên nói.
"Chưa giỏi. Mới không run."
"Không run là giỏi nhất."
"Còn mười hơi nữa," thầy Đức nói, nhìn bóng nắng trên tường. "Ai chưa chuẩn bị thì chuẩn bị."
"Chuẩn bị gì thầy?" Kình hỏi.
"Nhớ đừng làm rơi đồ."
"Con có đồ gì đâu."
"Cậu có bọc vải."
Kình đưa tay ra sau. Hai nút chỉ đỏ còn chặt. Cộc trên vai nó rụt cổ vô cổ áo.
"Tao nhắm mắt," Cộc nói. "Tao ở đây lần nào cũng chóng mặt."
"Mày chóng mặt thiệt hả?"
"Thiệt. Mà nói ra nghe yếu. Thôi nhắm."
Cả đoàn bước qua.
Bên kia là sân Giám. Nắng đứng bóng. Tiếng đọc sách vọng ra từ mấy dãy phòng, trầm bổng như tiếng ve. Mùi giấy cũ, mùi mực mới, mùi gỗ lim. Kình hít một hơi, thấy lồng ngực nở ra, như được trả lại một thứ nó không biết đã mất.
Thầy Khiêm chống gậy bước chậm. Thầy Đức bước đều. Khuê dẫn đầu, quen đường quen lối, đi qua hành lang dài, rẽ trái, ra gần cổng Giám.
Cô khựng lại.
"Có gì vậy Khuê?"
"Bảng yết." Khuê chỉ. "Mới dán."
Kình nhìn theo. Ngay sau cổng Giám, trên bức vách sạch, một tấm bảng yết mới dán đè lên tấm bảng cũ. Giấy còn trắng, mép còn ướt hồ. Phía trước đã có mấy sĩ tử đứng, chưa ai chen.
Đầu bảng, chữ son đỏ, to, nét đứng.
Kình bước tới. Mắt nó dò từng chữ, môi mấp máy. Nó chậm hơn người đứng cạnh, mà đọc hết, không sót chữ nào.
"Lệnh. Lập. Đoàn. Kiểm. Kê. Thần. Miền. Ngược."
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 7 →