Bó phiếu trấn miền Tây đến muộn. Dây gai buộc ngoài còn ẩm, dính một vệt bùn non màu nâu sẫm, vết của bến đò nào đó đã in lên đây trước khi nó vào được kho Giám.
Khuê không cắt. Cô ngồi xuống, đặt bó phiếu lên đầu gối, dùng móng tay cái gỡ từng vòng nút. Cô gỡ chậm hơn cần thiết, vì cô không muốn cắt đứt cái dây vừa đi từ nơi ấy lên đến đây.
Phiếu bên trong là phiếu ấp, xếp theo huyện. Cô đọc tên ấp, tên nhà, tên Táo. Rồi tay cô dừng.
Ấp Vàm Tre, nhà bà Tư Nhài, đã mất. Dòng chái sau: không rõ là gì. Hạn xóa: kết sổ năm Thái Ninh mười bảy.
Dòng chữ nằm ngay ngắn giữa trang, in bằng mực son ở phần hạn xóa. Bên dưới là nét chữ Táo nhà bà Tư, chữ cô nhận ra, nhỏ, nghiêng, từng nét kiên nhẫn của người đã làm Táo nhà ấy bốn mươi năm, và năm nào cũng viết một câu như vậy: Ở chái sau có một con không rõ là gì. Cạnh đó là dấu của trên, dấu trả về, đỏ tươi như vừa đóng sáng nay.
Khuê hiểu ngay. Cô không cần đọc lại.
Cái bút trong tay cô run. Run mạnh hơn mọi lần, run đến mức một giọt mực rơi khỏi đầu lông, đáp xuống mặt bàn gỗ, loang thành một đồng tiền đen. Cô nhìn nó. Cô đưa cán bút lên răng, cắn đúng vào hàng vết lõm của ông nội, cắn thật chặt, chặt hơn mọi lần.
Hơi thở cô đều lại sau mười nhịp.
Cô làm điều Khoa Bút làm: đi tìm thể thức.
"Thưa ông."
"Ừ."
Ông thủ kho đang xếp sổ vào kệ cao, lưng quay về phía cô. Khuê hỏi như hỏi chuyện chung chung, như đọc từ một cuốn chỉ nam.
"Con xin hỏi, nếu một dòng khai không rõ mà muốn giữ lại khỏi bị xóa, thì ai đứng ra được?"
"Người có sắc."
"Có sắc nào cũng được ạ?"
"Có sắc, biết rõ vật ấy, khai được tên và loài, rồi đóng ấn chứng. Thiếu một thứ thì không tính."
"Thiếu một thứ thì dòng bị xóa?"
"Thiếu một thứ thì dòng không có người đứng. Không người đứng thì tới kỳ xóa."
"Con tưởng xóa là việc của Thiên Tào."
"Thiên Tào xóa. Giám chuyển giấy." Ông thủ kho đặt cuốn sổ vào đúng ô của nó. "Cô hỏi để làm gì?"
"Con hỏi để chép cho đúng."
"Chép đúng thì không cần hỏi."
"Con xin hỏi thêm một câu. Nếu vật ấy có tên, mà tên đó không còn viết ra được?"
Ông thủ kho ngưng tay. Ông quay lại, chậm. Cái nhìn của ông dừng ở bó phiếu trên đầu gối cô, rồi dừng ở mặt cô.
"Có tên mà không viết được thì là tên bị gạch," ông nói. "Dòng nào dính tên bị gạch, người chứng phải chịu tội cùng tên."
"Có ai từng chứng chưa ạ?"
"Ba mươi sáu năm, tôi thấy một người."
"Người ấy sao?"
"Người ấy không còn ở kho."
Khuê chắp tay. "Con xin lỗi đã hỏi nhiều."
"Không phải xin lỗi. Hỏi nhiều thì chép sai. Chép sai thì tôi phải sửa." Ông thủ kho quay đi. "Cô chép."
Khuê ngồi im.
Cô đếm trong đầu. Người có sắc, biết rõ vật ấy: Kình biết. Nhưng Kình không có sắc, con dấu sừng trắng của nó mặt trống, đóng xuống chỉ thành một ô vuông không chữ. Người khai được tên: tên thật của Cộc là tên bị gạch. Viết vào sổ không giữ được, nghẹn ở đầu bút. Cô có sắc học trò của Khoa Bút. Cô biết rõ vật ấy. Nhưng khai cái tên ấy, bất kỳ tên nào, là khai luôn cả nhà họ Đặng, khai một cái án đã khép.
Cô đếm ba lần. Ba lần cô đều ra số không.
Cô có thể chép sót dòng này. Đó là một ý nghĩ rất nhỏ, lẻn vào đầu cô như con chuột. Một tờ trong trăm tờ của một trấn trong chín trấn. Không ai kiểm. Ông thủ kho cũng không kiểm. Cô sẽ để tờ phiếu nằm lại trong bó, và bó đó sẽ lên kệ, và đến kết sổ, ai đó sẽ đóng dấu xóa một loạt, không ai biết dòng nào.
Cô nhìn dòng chữ nhỏ nghiêng của Táo nhà bà Tư.
Khuê chép. Cô chấm bút, đặt đầu lông xuống đúng chỗ, chép từng chữ, từng dấu, từng khoảng trống. Nét chữ cô run ở chữ Nhài, run ở chữ mất, run ở hai chữ cuối của dòng cuối. Cô đặt dấu chấm.
Tờ chép nằm trước mặt cô, chữ nghiêng, ngay hàng, vết mực loang cạnh chữ "hạn". Cô nhìn nó. Rồi cô kéo một tờ giấy mới, chép lại từ đầu, lần này không giọt mực, không nét nào run quá, sạch như tờ giấy tế.
Hai tờ nằm cạnh nhau trên bàn. Một tờ có vết mực. Một tờ không. Cô nhìn từ tờ này sang tờ kia, cho tới khi đèn dầu hắt một vệt vàng qua cả hai.
"Cô chép xong tờ nào rồi?" ông thủ kho hỏi, vẫn quay lưng.
"Dạ, tờ ấp Vàm Tre."
"Nhà nào?"
"Nhà bà Tư Nhài."
"Có gì lạ không?"
Khuê nhìn cái giọt mực, cái giọt đen tròn trên mặt bàn gỗ.
"Dạ không, thưa ông. Dòng khai ghi hạn xóa như mọi nơi."
"Ừ."
Cô cất tờ sạch vào bó, tờ có vết mực kẹp vào trang bìa tráp của mình. Ông thủ kho bước ra phía kho trong, rồi đứng khựng ở ngưỡng cửa.
"Cô để tờ nháp trong tráp làm gì?"
"Dạ, con giữ để đối chiếu."
"Giữ nháp quá hạn là vi phạm."
"Con sẽ đốt đúng hạn ạ."
"Hạn là hôm nay."
"Dạ, tối nay."
Ông thủ kho nhìn cái tráp, nhìn cô, nhìn lâu. Ông không nói gì thêm, bước vào kho trong. Cô đợi tới khi tiếng chân ông xa hẳn. Rồi cô lấy tờ giấy trắng mới, mài mực, chấm bút. Lần này cô viết rất chậm, đúng thể thức một tờ trình: tiêu đề, kính ngữ, nội dung, ngày tháng, chữ ký. Kính gửi Học chính Vũ Đạt Chi. Nay thư lại kho sổ Vũ Khuê xin được hầu chuyện tối nay.
Cô ký tên. Cô gấp tờ trình làm đôi, làm bốn.
Người gác cửa phòng Học chính là một thư đồng mười hai tuổi, mắt ngái ngủ.
"Cô tìm Học chính? Học chính đi họp."
"Con gửi một tờ trình. Thư lại kho sổ."
"Để đâu?"
"Giữa bàn."
"Giữa bàn thì Học chính thấy ngay."
"Con biết."
Thư đồng ngẩng nhìn cô kỹ hơn, rồi mở cửa. Phòng Học chính trống, bàn gỗ sẫm, ghế bọc da. Khuê đặt tờ trình lên mặt bàn đúng giữa. Cô đứng nhìn nó một lúc, tờ giấy nhỏ, trắng, nằm giữa bàn của người cô gọi là cha.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 48 →