Gà trong lồng tre kêu cục cục trên lưng người đi trước, hòa với tiếng dép lẹp xẹp trên đường dốc.

Tinh mơ, sương còn phủ trắng sườn đồi, người từ các bản kéo nhau xuống chợ Nà Slấy, người nào cũng đeo gùi. Có gùi đựng măng khô, gùi đựng nấm, gùi đựng ngô, gùi đựng nguyên một con lợn con ủn ỉn thò mõm ra khỏi miệng. Kình gùi cái gùi bà Then giao, trong có hai bó lá men buộc dây gai và một bọc bút nghiên của nó. Quai gùi cứa vô vai, nhưng vừa khít, nó đi không thấy mỏi.

Piên đi trước dẫn đường, thầy Đức đi sau, chăn bông quấn tới tai.

"Chợ phiên năm ngày một lần," Piên nói, không ngoái lại. "Ai ở xa phải đi từ gà gáy. Nên Piên bảo Kình đừng ngủ quên."

"Kình không ngủ quên."

"Kình ngáy to. Thầy Đức nghe thấy."

"Tôi nghe thấy," thầy Đức xác nhận. "Tôi không ghi."

Chợ nằm trên một bãi đất bằng bên bờ suối, ken đặc người. Sạp măng khô, sạp nấm rừng, sạp mật ong trong ống tre, sạp đậu phụ rán vàng ươm bốc khói. Mùi khói, mùi hành phi, mùi lợn quay lẫn mùi cỏ ướt. Kình đi chậm, mắt nhìn không kịp.

Cạnh gốc cây đa đầu chợ có một ông già ngồi trên chiếu, trước mặt trải giấy, nghiên, bút. Tấm biển tre dựng bên cạnh vẽ nguệch ngoạc hình một cây bút lông. Ông gầy, lưng gù, mắt sắc.

Kình trải chiếu cạnh ông. Trải giấy. Mài mực.

Ông già ngó nó một lượt, cau mày.

"Chiếu này của tôi."

"Dạ con trải chiếu bên cạnh thôi à nghen."

"Bên cạnh là cướp khách."

"Con chưa có khách."

"Rồi cũng có." Ông già quay đi, phụng phịu. "Tôi là Nông Văn Chứ. Viết thư ở chợ này hai mươi năm."

"Con là Kình."

"Biết rồi. Người miệt dưới."

Có một người đàn ông Kinh, béo, đội nón lá, gánh đôi quang gánh đầy vải, bước tới chiếu ông Chứ. Ông ta ngồi xuống thở hồng hộc.

"Ông thầy, viết giùm tôi lá thư. Về cho vợ."

Ông Chứ chấm bút. Ông viết chậm, từng nét. Mấy câu đầu, người lái buôn nghe, gật gù. Tới câu thứ tư, ông ta nhăn mặt.

"Ông thầy đọc lại tôi nghe."

Ông Chứ đọc, giọng trầm, cố bắt chước giọng văn Kinh: "Kính gửi hiền thê. Phu quân ở nơi sơn cước, thân thể an khang, hàng hóa tiêu thụ thuận lợi."

"Sơn cước? Hiền thê?" Người lái buôn lắc đầu. "Vợ tôi bán cá. Bả đọc xong chắc tưởng tôi làm quan."

Ông Chứ đỏ mặt. Ông biết tiếng Kinh nhưng không biết giọng Kinh. Ông cầm bút, bất động.

Kình nghiêng người sang.

"Chú ơi, nếu chú đồng ý, con viết lại."

Người lái buôn ngó nó. "Nhỏ viết được hả?"

"Dạ. Chú nói con nghe."

"Thì..." Ông ta gãi cằm. "Nói là tôi ở trên này khỏe. Bán được. Mua cho bả cái khăn. Nhớ bả ăn cơm đúng bữa."

Kình viết. Câu ngắn. Chữ rõ. Mình ở trên này khỏe. Bán được nhiều. Anh mua cho mình cái khăn đỏ. Mình nhớ ăn cơm đúng bữa.

Kình đọc lại. Người lái buôn nghe tới "khăn đỏ" thì mắt đỏ lên. Ông ta lục túi, đếm tiền, đặt xuống chiếu của Kình.

"Năm đồng, đúng giá?"

"Dạ, năm đồng," ông Chứ nói, giọng cộc cằn. Ông nhìn mớ tiền lẻ rồi nhìn Kình, như người bị cướp mất con gà đẻ trứng vàng. Rồi ông thở dài. "Thôi. Chia đi."

"Chia sao chú?"

"Khách nói tiếng Tày thì tôi nhận. Khách nói tiếng Kinh thì cậu nhận. Ai cũng có khách."

"Dạ, con đồng ý."

"Đừng cười." Ông Chứ trừng mắt. "Chỉ vì tôi không muốn mất khách mà thôi."

Phía bên kia chợ, tiếng Piên vọng qua đám đông, oang oang. Kình ngẩng lên. Thầy Đức đang đứng trước một sạp vải, tay sờ tấm chăn bông vỏ chàm. Tấm chăn Giám cấp của thầy đã sờn, bông xẹp mỏng, thầy quấn mãi vẫn lạnh. Bà bán là một bà già Tày, tóc búi, khăn chàm, mắt tinh nhanh.

"Mắc quá bà ơi," thầy Đức nói. "Bớt chút đỉnh."

Bà bán nghiêng đầu.

"Mắc?" Giọng bà lơ lớ. "Mắc vào đâu?"

"Mắc đó." Thầy Đức chỉ tấm chăn.

Bà nhìn tấm chăn. Bà lật lên, lật xuống, tìm chỗ nó bị vướng.

"Không có vướng chi hết."

"Là đắt. Nó đắt quá."

"Đắt?"

"Ừ."

Piên xông vô giữa hai người, thở dốc. "Thầy ơi, ở ngoài này mắc là cái bị treo, cái bị vướng. Thầy nói đắt thì nói đắt, đừng nói mắc."

"Tôi nói mắc là tôi nói đắt."

"Ở dưới xuôi thôi. Ở ngoài này mắc là treo."

Cô quay sang bà bán, nói một tràng tiếng Tày. Bà bán nghe, ngạc nhiên, rồi bà cười ngặt nghẽo, vỗ đùi. Bà nói lại một tràng. Piên quay lại thầy Đức.

"Bà nói bà tưởng tấm chăn bị treo ở đâu. Bà nói chăn bà không có móc."

"Tôi chịu không biết bà muốn nói gì."

"Bà muốn nói tấm chăn tám tiền."

"Tôi chỉ có sáu tiền rưỡi."

Piên dịch sang tiếng Tày. Bà bán lắc đầu. Thầy Đức đứng im, nhìn tấm chăn, như nhìn một con ngựa thồ không chịu đi. Hồi lâu, ông rút từ túi áo gói thuốc rê.

"Sáu tiền rưỡi, cộng gói thuốc này."

Bà bán nhận gói thuốc, ngửi, nheo mắt. Bà gật.

Thầy Đức ôm tấm chăn vô lòng, nghiêm mặt, trả bà sáu tiền rưỡi.

"Tôi chịu không biết bà bớt chỗ nào," ông nói.

"Tôi cũng không biết," bà bán nói bằng tiếng Kinh, rồi cười.

Kình ngồi viết thư, nghe cả đoạn, cười tới run vai. Ông Chứ quay lại nhìn nó, rồi nhìn thầy Đức, không cười, nhưng mắt ông ấm hơn một chút.

Tới trưa, khách vãn. Ông Chứ lau bút, mài mực lại, cúi đầu, mắt không nhìn Kình.

"Cậu từ Giám lên."

"Dạ."

"Nhà bà Lường, cậu ở đó."

"Dạ."

"Tôi biết bà Lường." Ông Chứ nhìn cục mực đen trong tay. "Tháng Chạp tôi viết cho bà một lá thư. Gửi con gái bà, ở Giám."

Kình ngưng bút.

"Bà Lường bắt tôi đọc lại câu 'mẹ mong con về' ba lần," ông Chứ nói. "Tôi viết có một lần. Giấy đắt."

Hết Chương 36
✦

Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.

Chương 37 →
← TrướcTiếp →