Mực mài chưa đặc, Thạc đã trải xong tờ giấy.
Ông trải nó giữa sàn nhà trưởng bản, dằn bốn góc bằng bốn hòn đá nhặt ở bờ suối. Giấy lớn, trắng ngà, to bằng cái chiếu đôi. Kình ngồi xếp bằng bên mép giấy, mài mực. Cái nghiên đá tròn xoay từng vòng dưới thỏi mực, tiếng sột soạt đều đều.
Giờ Thìn, nắng chưa lên tới sàn. Ngoài hiên, gà bới đất kêu cục tác. Ông Lương Văn Tẳng ngồi đối diện Thạc, râu cằm lơ thơ, áo chàm sờn cổ, bàn tay khô như vỏ cây. Ông nói tiếng Kinh khá, chậm, từng chữ chọn kỹ.
"Suối này tên Khuổi Tính. Bản mình theo tên suối."
Thạc nhúng bút, vẽ một nét mảnh như sợi tóc, uốn qua giữa giấy. "Khuổi Tính. Ông cho tôi hỏi, tên núi?"
"Núi lớn phía sau là Phja Moóc." Tẳng giơ tay chỉ ra cửa. "Đèo lên núi gọi Khau Lồm. Ông đã qua."
"Khau Lồm. Phja Moóc." Thạc ghi, môi lẩm nhẩm theo. Ông ngẩng lên, nhìn Kình. "Cậu Kình, chữ Khuổi này viết sao cho đúng âm?"
"Ông hỏi Piên."
"Tôi hỏi cậu vì cậu ngồi đây." Thạc không dừng bút. "Người ngồi đây thì có ý kiến."
Kình ngưng tay mài. Nó hắng giọng, đọc thử: "Khuổi."
"Nghe thế nào?"
"Nghe giống chữ khuê. Mà ngắn, nuốt giữa chừng."
Thạc ghi chữ khuê, kèm một dấu nhỏ bên cạnh. Ông gật, thổi nhẹ cho mực khô.
"Tôi ghi theo chữ khuê, chú thích âm Tày. Giám đọc lên không sai bao nhiêu."
"Học chính." Uẩn ngẩng khỏi sổ chép, giọng nhỏ, cố làm ra vẻ chỉ góp ý. "Người tùy hành không có chức, hỏi ý chi cho mất công?"
"Cậu chép tiếp đi."
"Dạ, nhưng..."
"Một chữ sai thì cả bản đồ sai," Thạc nói, không nặng giọng. "Ai nghe đúng thì tôi hỏi người đó. Cậu nghe đúng không?"
Uẩn cúi xuống. "Dạ, không."
"Vậy chép."
Kình cúi xuống nghiên, mài thêm một vòng. Nó chưa quen được hỏi ý. Ở Giám, người ta cho nó thẻ bài, bắt nó đứng. Ở đây một ông quan hỏi nó cách đọc một chữ, rồi ghi.
"Thác," Thạc nói. "Ông Tẳng, thác trong thung lũng?"
"Nặm Tẩu. Nằm sâu. Đi từ đèo phải mất nửa ngày." Tẳng nhích người. "Nguồn nước là Bó Khoăn. Đồi nương nhà tôi là Pò Fầy."
"Pò Fầy. Nương ngô." Thạc ghi.
Tẳng im một lúc. Ông liếc mấy thư lại đang chép ở góc nhà, rồi lại nhìn Thạc, giọng hạ xuống.
"Học chính. Tôi xin một chuyện."
"Ông cứ nói."
"Thần nương nhà tôi. Hai năm nay lúa không đầy bông. Tôi cúng, cúng đủ, mà bông vẫn lép." Ông chắp hai tay. "Nghe nói đoàn cấp sắc. Tôi xin sắc cho thần nương. Lễ tôi gánh."
Thạc đặt bút xuống. Ngón cái chạm một đốt, rồi đốt kế bên.
"Ông Tẳng, tôi nói thật. Theo quy định, thần nương xếp sau các cửa. Cửa trước, nương sau."
"Cửa nào?"
"Những chỗ dân đi qua nhiều nhất. Đường núi. Đèo. Thác." Thạc nhìn ông, mắt ông nhìn thẳng. "Năm sau, nếu đoàn còn lên đây, tôi xin ghi tên nương nhà ông đầu tiên. Xin ông hiểu cho."
"Năm sau." Tẳng lặp lại. Ông thở ra, hai vai sụm xuống một chút, như người vừa mang nặng bước thêm một dốc nữa. "Vậy thôi."
"Tôi xin lỗi ông."
"Ông không lỗi gì." Tẳng đẩy tới trước mặt Thạc một chén nước chè xanh. "Uống đi. Nước này nấu từ lá trên nương nhà tôi."
"Theo quy định đoàn không nhận lễ."
"Chén nước không phải lễ."
Thạc nhìn chén chè, nhìn ông. Ông bưng lên, uống một ngụm.
"Ngon," ông nói. "Đắng đúng chỗ."
Kình nhìn bàn tay Tẳng, bàn tay chắp rồi từ từ buông. Dưới xuôi nó từng thấy người ta xếp hàng ba ngày để xin một tờ sắc cho thần làng mình. Giờ nó thấy thêm một người nữa.
"Con xin ông," nó nói. "Ông đừng buồn."
"Tôi không buồn." Tẳng cười gượng. "Tôi chỉ muốn lúa đầy bông."
Giữa trưa, Thạc cuộn tạm tờ giấy, kéo từ túi ra một sợi dây gai thắt nút cách đều.
"Cậu có rảnh không? Tôi đo sông."
"Dạ?"
"Tôi đo bề ngang suối. Để vẽ cho đúng. Cậu cầm một đầu giúp tôi."
Hai người ra bờ suối. Kình lội xuống, đứng giữa dòng, cầm đầu dây. Nước chảy xiết, lạnh cắt bắp chân. Thạc đứng bên bờ, căng dây, đếm nút.
"Sáu nút," ông gọi vọng. "Sáu nút và nửa. Ngang vậy mà sâu quá đầu gối."
"Sâu hơn nghe!"
"Nghe không bằng đo. Cậu ra đi."
Kình lên bờ, đứng cạnh Thạc, thở ra khói. Thạc cuốn dây từng vòng quanh bàn tay.
"Quê tôi làng nhuộm, tôi kể cậu rồi. Tôi chưa kể mẹ tôi." Ông nói chuyện này không chờ ai hỏi. "Ngày nào bà cũng xuống bến giặt chàm. Tay xanh tới chết. Móng tay xanh, ngón xanh, kẽ ngón xanh. Tôi lớn lên tưởng tay người ta ai cũng xanh."
"Ngón cái của ông còn xanh."
Thạc nhìn móng tay cái của mình. Vệt xanh mờ vẫn ở đó, không bao giờ sạch hẳn.
"Ba mươi năm rồi." Ông cười, cười thật. "Hồi nhỏ tôi ghét. Giờ tôi không rửa nữa."
"Sao ông không rửa?"
"Rửa nhớ mẹ quá thì khổ."
Kình nghe, không tìm được câu đáp. Nó nhặt hòn sỏi ném xuống nước, nhìn vòng sóng loang ra.
Chiều, Thạc về trải lại tấm bản đồ, tô nốt đường suối, ngọn núi, mái nhà. Kình đứng sau lưng nhìn. Thung lũng hiện dần dưới ngòi bút: nét mảnh như tóc, nhà nào ra nhà nấy, suối chảy, đèo uốn. Trên đường núi phía trên bản, có ba vòng tròn nhỏ, rỗng, chưa tô.
"Thưa ông, ba vòng tròn đó là gì?"
Thạc thổi mực cho khô, không ngẩng lên.
"Việc của mùa này."
Ông cuộn tờ giấy lại, buộc dây.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 28 →