Ông Khoang cắm sào xuống đá, thẳng đứng, sâu tới nửa thân.
"Lên bộ."
Phía trước, ghềnh lớn chặn ngang dòng. Nước trắng xóa dội qua những khối đá to như nhà, bọt tung lên cao, tiếng gầm vang dội vách núi. Không chiếc thuyền nào qua được. Kình nhìn, chân nó bủn rủn, dù chưa phải ngồi lên.
"Gánh đồ," ông Khoang nói. "Men núi. Tới bến trên."
"Bao xa?" Thạc hỏi.
"Nửa buổi."
"Nửa buổi là mấy dặm?"
"Dặm tôi không biết." Ông Khoang kéo sào lên. "Nửa buổi là nửa buổi."
Thạc gật, ghi vô sổ. Không ai cãi.
Đoàn lên bờ. Mỗi người gánh một phần. Thạc tự vác ống sổ và cái rương giấy, đeo hai dây lên hai vai, lưng hơi còng.
"Học chính, để tôi," một thư lại nói.
"Sổ của tôi thì tôi mang." Ông chỉnh dây rương. "Cậu lo túi gạo."
Thầy Đức bước lên bờ, người vẫn quấn chăn kín như cái kén, mái chèo vác trên vai, đầu mái chèo chọc lên trời giữa đống chăn. Thầy Khiêm chống gậy, chậm mà vững. Piên đi trước, gùi trên lưng, chân bước như người chưa từng rời núi. Cô không nhìn lại.
"Thầy, để con gánh tay nải cho thầy," Kình nói với thầy Khiêm.
"Ta gánh được."
"Thầy đi gậy, tay khỏi gánh."
"Gậy ta cầm một tay, tay kia ta gánh." Thầy Khiêm giơ cái tay nải, nhẹ như không. "Thuốc không nặng. Cái nặng là người."
"Người nào thầy?"
"Người ta lo."
Kình không hỏi nữa. Nó xách túi gạo của thư lại thế vô.
"Đi sát vách," Piên gọi ngoái lại. "Vực bên phải."
"Piên nhắm mắt cũng đi được hả?"
"Nhắm thì té."
"Vậy Piên mở mắt."
"Piên mở từ nhỏ." Cô nhún vai. "Kình mở thêm một mắt nữa."
Đường men sườn núi hẹp, một bên là vách đá, một bên là vực xuống ghềnh. Đá rêu ướt trơn. Kình đi giữa, tay áo bông xắn cao, Cộc ngồi vai trái, hai chân cắm chặt vô cổ áo.
Phía sau nó, Uẩn bước cẩn thận, từng bước một, mắt dán xuống đất. Giày vải mới của hắn đã đen bùn tới mắt cá.
Tiếng trượt.
Kình quay đầu. Uẩn đã lệch người, một chân đạp lên tảng rêu, chân kia nhấc lên không trung. Ống tráp văng khỏi vai, bay một vòng, rơi xuống mép vách. Tay Uẩn quờ quạng giữa không khí.
Kình lao tới. Tay trái nó chụp cổ áo Uẩn, kéo giật lại. Tay phải chộp dây ống tráp, đúng lúc nó sắp trôi qua mép đá.
Hai người ngã ngồi xuống đường.
Uẩn thở hổn hển, mặt trắng bệch, khăn len lệch hẳn. Hắn nhìn cái ống tráp trong tay Kình. Hắn nhìn Kình.
Hắn không nói cảm ơn. Hắn đứng dậy, phủi giày, hai tay run.
"Đi," Kình nói.
Họ đi tiếp. Uẩn bước sát hơn một chút, dừng lại sau lưng Kình đúng một sải. Đi chừng trăm bước, hắn lí nhí.
"Ống tráp còn nguyên."
"Dạ."
"Trong có sổ." Hắn nuốt khan. "Sổ công vụ."
"Dạ, tui biết."
"Nếu rớt xuống ghềnh là hỏng việc."
"Dạ, còn nguyên."
Uẩn im. Một lúc sau hắn nói thêm, nhỏ hơn.
"Cảm ơn... cái ống."
Kình hiểu đó là cảm ơn kiểu Khoa Bút, không cảm ơn người, chỉ cảm ơn đồ. Nó gật.
"Dạ."
"Thằng này nợ mày," Cộc thì thầm trên vai nó.
"Nợ gì?"
"Cái ống. Cái ống đáng giá hơn cái mạng nó, theo nó nghĩ."
"Mày nói ác quá."
"Tao nói thiệt." Cộc cào tai. "Mày cứu cái mạng, nó cảm ơn cái ống."
Buổi trưa họ tới bến trên, một bãi sỏi phẳng sát đầu ghềnh, nơi dòng nước hạ xuống thấp, lặng lại. Ở đầu bãi có một cây cột gỗ mới, dựng sát mép nước. Trên đầu cột, một tờ sắc dày, son đỏ, bốn góc đóng đinh đồng.
Kình đặt gánh xuống. Nó bước tới. Nó đọc.
Nó đọc hết một lượt, rồi đọc lượt nữa. Rồi nó quay, tìm. Thầy Đức đang ngồi trên một tảng đá, chăn bông quấn đến cằm, mái chèo dựng bên cạnh, sổ mở trên đầu gối.
"Thầy. Thầy lại đây coi."
Thầy Đức đứng dậy. Cái kén chăn lết từng bước trên sỏi, dừng trước cột. Thầy ngó tờ sắc.
"Giống tờ bến dưới," Kình nói. "Giống tờ bến đầu sông Cái. Giống nhau quá."
"Giấy Giám thì giống."
"Dạ, giấy giống con hiểu. Mà từng nét, thầy." Nó giơ tay chỉ. "Nét phẩy chỗ này. Nét ngang chỗ này. Con đọc ba tờ rồi. Không lệch một chỗ nào."
"Người viết một tay thì giống."
"Người viết thì có chỗ run, thầy. Ông Năm khắc dấu nói run là của ổng. Chữ run là chữ của người." Giọng nó hạ xuống. "Tờ này không run chỗ nào."
Thầy Đức không đáp. Ông nhìn tờ sắc rất lâu. Gió thổi qua bãi sỏi, làm tờ giấy phập phồng ở mép đinh.
"Tôi chịu không biết," ông nói.
Ông lấy sổ ra khỏi chăn. Ông mở. Ông cầm bút, mực đã chấm sẵn, ngòi lơ lửng trên giấy. Kình chờ.
Ngòi bút không hạ.
Ông gấp sổ, cất vô chăn.
Kình ngó theo. Nó từng thấy thầy nghe mà không ghi. Lần này thầy thấy tận mắt, mực chấm sẵn, mà ngòi bút không hạ.
Tiếng bước chân nhẹ vang sau lưng. Thạc đứng bên cột, đọc tờ sắc, gật hài lòng. Ngón cái ông chạm đốt ngón tay, một, hai, ba, tới mười hai.
"Cột thứ mười hai," ông nói. "Đủ."
"Đủ rồi hả ông?" Kình hỏi.
"Đủ mười hai cột của năm nay." Ông quay lại, mắt sáng. "Mười hai vị thần bến có sắc."
Kình không đáp.
Từ sườn núi phía trên, tiếng chiêng vọng xuống.
Nhịp chậm. Một tiếng, rồi chùm tiếng khác, trầm hơn, ngân dài. Nhiều chiếc chiêng cùng đánh, lệch nhau nửa nhịp, tiếng này chưa tan thì tiếng kia nối vô. Khói bếp bốc lên từ một xóm nhà sàn lưng chừng núi, xám, thẳng, lên cao rồi tản.
Cộc trên vai Kình ngóc đầu. Nó nghe. Nó không đùa.
"Đám ma," nó nói.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 21 →