Kình nằm úp bụng trên mạn thuyền nhỏ, đầu thò ra ngoài, nôn xuống ghềnh Nặm Lin lần thứ ba trong buổi sáng.
Nước trắng xóa bên dưới, xoáy, chồm lên đá, rồi vỡ. Thuyền nhảy một cái, bụng nó nhảy theo một cái. Nó nhắm mắt, mở ra, thấy nước, lại nhắm.
"Ngồi giữa," người đứng đuôi thuyền nói. "Đừng nhìn nước."
Đó là ông Khoang, Hoàng Văn Khoang, người chèo dẫn đường, khoảng bốn mươi tuổi, khăn chàm quấn đầu, áo chàm xắn tay. Cây sào tre ông cầm dài gấp đôi người. Ông nói tiếng Kinh ít, chậm, chữ nào ra cũng như đóng cọc.
"Tui đâu có nhìn," Kình rên. "Nó tự nhảy vô mắt tui."
"Vậy nhắm."
"Nhắm cũng nhảy."
"Vậy thì chịu."
Piên đứng ngay mũi thuyền, hai chân dang rộng, một tay vịn dây, tay kia buông tự nhiên. Con thuyền đảo qua một ghềnh đá, cô không loạng choạng. Tóc tết bay ngược ra sau.
"Người miệt sông mà say thuyền," cô nói, không quay lại.
"Sông tui nằm im," Kình nói, giọng yếu xìu. "Sông Piên nhảy."
"Sông nào cũng nhảy. Kình ngồi lên là thấy mà nè."
"Tui ngồi giữa mà."
"Ngồi giữa vẫn thấy."
Giữa thuyền, thầy Đức ngồi trong một đống chăn bông. Ông quấn chăn kín từ cổ xuống chân, từng lớp, từng lớp, chỉ thò ra cái mặt và một bàn tay cầm bút. Cuốn sổ nằm trong lòng, bàn tay kia giữ nó khỏi trôi. Ông trông như một con kén, một cái kén lớn, đặt giữa lòng thuyền, tròn xoe, bất động.
Cộc ngồi trên đỉnh cái kén, hai chân co lên, đuôi quấn quanh người.
"Người Nam Kỳ lên núi thì thành con tằm," nó nói.
"Tằm nhả tơ," thầy Đức đáp, không ngẩng lên. "Tôi nhả chữ."
"Tơ thì đẹp hơn chữ."
"Chữ thì ghi lâu hơn tơ."
"Ông cuốn chăn lạnh hơn không cuốn."
"Tôi ghi: không lạnh."
"Thật không?"
"Thật thì tôi chịu không biết."
Thuyền sau bám sát, cách chừng ba sải, gió xuôi đưa tiếng sang rõ mồn một. Uẩn ngồi ở mũi với hai thư lại kia. Hắn chỉ tay về phía thuyền giữa.
"Ông tuần vùng đang nói chuyện với ai?"
"Không có ai."
"Ông ngồi một mình mà nói."
"Rét quá hóa lẩn thẩn," một thư lại nói.
"Ông cao tuổi," thư lại kia thêm. "Gió núi vô đầu thì vậy."
Uẩn kéo khăn len lên khỏi mũi, ngó chăm chăm cái kén, rồi quay đi, cười một mình sau lớp len. Ba người bên đó không nghe ra Cộc.
Thuyền đảo thêm một ghềnh. Kình nôn lần thứ tư. Nó không còn gì để nôn. Nó chỉ rên lên một tiếng, cổ họng khô như giấy.
"Sắp tới chỗ nghỉ," ông Khoang nói. "Ráng."
"Chừng nào tới?"
"Hết ghềnh."
"Hết ghềnh là chừng nào?"
"Hết là hết."
"Ông chèo bao nhiêu năm rồi?" Kình hỏi, cố nói cho khỏi nghĩ tới bụng.
"Từ nhỏ."
"Có lần nào lật thuyền chưa?"
"Một lần."
"Rồi sao?"
"Lội."
"Lội tới đâu?"
"Tới bờ."
Piên bật cười ngoài mũi thuyền, vai rung. Ông Khoang không cười, nhưng khóe mắt ông nheo lại, dưới nếp khăn chàm.
Trưa, thuyền tấp vô một bãi sỏi bên bờ, cạnh một cây gạo già rễ nổi lên khỏi đất. Mọi người lên bờ. Kình bước xuống, chân mềm như bún, ngồi bệt xuống sỏi. Cộc nhảy theo, đứng cạnh. Piên nhóm bếp ba hòn đá ngay trên sỏi, đun một ấm nước. Cô múc một bát đưa cho cái kén chăn.
"Thầy Đức uống đi."
"Tôi ghi: nước nóng."
"Ghi sau. Uống trước."
"Đúng phép là ghi trước."
"Đúng phép ở bản Piên là nước nóng uống trước."
Thầy Đức ngó bát nước, ngó Piên. Một bàn tay thò ra khỏi chăn, nhận bát.
"Tôi ghi," thầy nói. "Cô Nông ra lệnh."
"Piên không ra lệnh. Piên mời."
"Vậy tôi ghi: được mời."
Ông Khoang chống sào lên bờ, đứng lại một chút nhìn sườn núi phía trên. Ông giơ tay chỉ.
Trên sườn núi cao, trong làn sương mỏng trắng như sữa, một vạt hoa trắng nở lấp lánh giữa màu xám của đá. Hoa nhỏ, năm cánh, từng chùm, cuối mùa. Gió núi đưa vài cánh bay xuống, trắng, chậm rãi.
"Hoa mận," ông nói. "Cuối."
"Đẹp," Piên nói. Giọng cô dịu đi.
"Hoa mận mà tui nôn?" Kình nói, tay ôm bụng.
"Cậu nôn một chuyện, hoa nở một chuyện." Ông Khoang quay sang. "Hai chuyện không chung."
Thầy Khiêm chống gậy đi tới, từ thuyền sau lên. Thầy cúi xuống, nhìn Kình, mắt nheo lại. Thầy thò tay vô tay nải, lấy ra một lát gừng khô, màu vàng nâu, đưa tới.
"Ngậm."
"Dạ, con ngậm."
"Ngậm chậm. Đừng nhai."
Kình ngậm. Vị cay xộc lên mũi, đắng, rồi nóng. Cái nóng chạy xuống cổ họng, xuống bụng, trải ra như tấm chăn. Sau chừng mười hơi thở, bụng nó lặng.
"Hết nôn rồi," nó nói. "Thầy."
"Ừ."
"Thần dược hả thầy?"
"Gừng." Thầy Khiêm gật. "Gừng người nào cũng ngậm."
Kình ngồi dậy. Mặt nó hết xám. Cộc ngó nó một lượt.
"Mặt mày có máu lại rồi," nó nói. "Hồi sáng mặt mày xanh như rau muống luộc."
"Mày nói chuyện chi mà kỳ."
"Rau muống đâu có kỳ."
Buổi trưa ăn xong, đoàn xuống thuyền lại. Piên và ông Khoang đổi sang thuyền đầu cho dễ nhận khúc sông, thuyền giữa giao cho người chèo phụ. Kình ngồi ở lòng thuyền, thầy Đức trong cái kén chăn, Cộc trên đỉnh.
Chiều, thầy Đức đưa sổ cho Kình. Cuốn sổ bìa chàm mở ở trang đang viết. Kình tự đọc, như thường lệ, từng chữ.
Nó ngừng.
Nét chữ thầy run. Lần đầu tiên nó thấy nét chữ thầy Đức run, từng nét ngoằn ngoèo, chấm mực đậm nhạt không đều.
Dưới dòng đó, thầy ghi thêm một câu nhỏ, nét vẫn run.
Rét. Chữ run. Không phải nói dối.
Kình ngẩng lên. Thầy Đức đã nhắm mắt, quấn chăn, môi hơi tím.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 19 →