Thạc ngồi dưới đèn lồng treo mui thuyền, đếm đậu đỏ trong một cái chén sứ. Ngón cái ông chạm từng đốt ngón tay, mỗi đốt một hạt, hạt này sang hạt kia, đều như người lần tràng.
Đêm đã xuống từ lâu. Thuyền neo trong một vụng nước lặng, tiếng ếch rền từ bờ, hai thư lại kia đã ngủ co ro dưới chiếu, chỉ còn Uẩn thức, ngồi cách xa, cuốn khăn len thêm một vòng. Ánh đèn lồng hắt vàng nhạt xuống mặt nước, lay nhẹ theo sóng.
"Khẩu phần đoàn," Thạc nói, không ngẩng lên. "Đậu đỏ, mỗi người một chén mỗi ngày. Hết trăm rưỡi chén là ra tới chân đèo."
"Ông đếm kỹ vậy?"
"Đếm kỹ thì không đói." Ông ghi vô sổ, chấm bút. "Cậu Kình, mời ngồi."
Kình ngồi xuống, đối diện ông. Áo bông thầy Khiêm trùm kín vai, tay áo xếp hai nếp. Cộc thò đầu ra khỏi cổ áo, hơi thở phả vô cổ nó.
Thầy Đức ngồi xa ở mũi thuyền, trong bóng tối, sổ đặt trên gối. Thầy không ghi, chỉ ngồi. Trước mặt thầy, một nén nhang cắm vào khe ván mũi, đầu đỏ lập lòe, cháy được non nửa. Nén nhang điểm danh của người tuần vùng, đêm nào thầy cũng thắp.
"Thầy Lâm," Thạc gọi. "Thầy ngồi xa quá. Lại đây cho ấm."
"Tôi ngồi đúng chỗ."
"Chỗ đó lạnh."
"Chỗ nào tôi ngồi thì chỗ đó ấm." Giọng thầy Đức không đổi. "Ông cứ nói chuyện."
Thạc đặt bút xuống, nhìn mặt nước đen, nơi đèn lồng rơi thành một vệt vàng méo mó.
"Quê tôi là làng thợ nhuộm ven sông," ông nói, không ai hỏi. "Tôi mười tuổi, làng có dịch."
Kình không ngắt.
"Thần làng mất người trông. Không ai cúng đúng ngày, không ai thắp hương đúng giờ. Người chết nhiều quá, người sống lo chôn, quên thần." Ông nhìn cái chén đậu đỏ. "Nước sông đổi màu ba tháng. Đỏ, rồi nâu, rồi đen. Cá nổi trắng. Con nít uống phải nước đó cũng chết."
"Rồi sao ông?"
"Rồi thôi." Ông giơ bàn tay lên, ngón cái hướng ra phía đèn. Móng cái có vệt xanh chàm mờ, ánh vàng chạm lên như vết trầy. "Rửa ba mươi năm không sạch. Nhà tôi nhuộm chàm."
Kình nhìn vệt chàm. Nước sông vỗ nhẹ vào ván thuyền, đều như tiếng chân người đi chậm. Nó không biết nên nói gì.
"Vào sổ là được che chở," Thạc nói. "Thần có sắc thì có lễ. Có lễ thì có người trông. Có người trông thì có ngày giỗ. Không ai bị bỏ."
Nó nghĩ tới ông Gò, ngồi một mình ba mươi mốt năm trước cái gò đất. Câu đó nghe na ná một câu nó đã nghe bên cái bàn gỗ trơn ở Giám. Lần đó nó cũng không cãi được.
"Con viết trong tờ trình," nó nói. "Thần đói vì không ai nhớ."
"Tôi đọc câu đó ba lần." Thạc nhìn nó. "Tôi đồng ý nhớ là chuyện quan trọng. Tôi chỉ tin sổ giúp người ta nhớ."
"Sổ giúp ghi, thưa ông. Nhớ là chuyện của người."
"Người thì quên."
"Dạ, quên."
"Cho nên có sổ." Ông mỉm cười, không đắc thắng. "Hai ta không cãi nhau. Ta chỉ đứng hai bên một cái cầu."
"Cầu gì ông?"
"Cầu từ quên tới nhớ." Ông chạm đốt ngón tay. "Cầu hẹp, mỗi người đi một lối."
"Thưa ông," nó hỏi. "Có thần không muốn vô sổ thì sao?"
"Thì tôi hỏi thần vì sao."
"Hỏi xong thì sao?"
"Thì tôi ghi." Ông gật. "Xin cậu hiểu cho, tôi không ép ai."
"Ghi gì ông?"
"Ghi lý do thần nói. Nguyên văn nếu thần chịu nói. Tôi ghi hết."
"Ghi hết rồi thì?"
"Thì Giám đọc." Ông mở sổ, lật một trang, đẩy qua mặt bàn. "Cậu xem."
Kình nhìn. Trang giấy kẻ bốn cột, đầu cột chữ ngay hàng. Bên dưới mỗi tên thần có một dòng lý do. Có dòng ghi: Thần chưa muốn. Có dòng ghi: Thần sợ lính. Có dòng ghi: Thần hỏi có phải trả tiền không.
"Mấy dòng này sau đó thành gì ông?"
"Thành bản báo cáo. Gửi về Giám." Ông chậm rãi. "Tôi không quyết sau đó. Tôi chỉ ghi."
Gió thổi qua mui, lay đèn lồng. Cái bóng Thạc chuyển dịch trên mạn thuyền.
Ông hỏi, đột ngột nhưng giọng dịu.
"Ở Giám, có ai đối xử tệ với cậu không?"
Kình ngẩng đầu. Câu hỏi bất ngờ, và không có vẻ gì là lấy lòng.
"Dạ..."
"Tôi hỏi thật lòng."
"Dạ, năm đầu con mù chữ. Thầy giáo kêu con đứng dậy đọc, con đọc không được. Cả lớp cười."
"Rồi sao?"
"Rồi con học." Kình nhún vai. "Học thì hết cười."
"Hết thật?"
"Dạ, còn vài đứa."
Thạc gật. "Tôi cũng không ai dạy."
"Dạ?"
"Hồi nhỏ, nhà thợ nhuộm không có tiền cho con học chữ." Ông chạm đốt ngón tay. "Có người chọn tôi."
Kình chờ. Ông không nói người đó là ai. Ánh đèn run trên mặt ông, trên hàng râu mép tỉa gọn. Ngoài mũi thuyền, sổ thầy Đức sột lên một tiếng, rất khẽ.
Nó không hỏi.
Thạc cầm bút lên, ngó cái chén đậu, ngó Kình, rồi đẩy chén về phía nó.
"Ăn đi. Hôm nay còn dư một chén."
"Dạ, con ăn."
Kình nhón mấy hạt bỏ vô miệng. Đậu đỏ mềm, ngọt, mùi nước dừa, hạt nào cũng còn ấm hơi bếp. Cộc ló đầu ra, ngửi, rồi lặng lẽ thụt vô.
Một lúc sau, khi đã đếm xong đậu, Thạc gấp sổ lại. Ông đứng dậy, vươn vai, lưng kêu rắc một tiếng. Ông chắp tay sau lưng, đi tới mạn thuyền, nhìn vụng nước đen.
"Cậu Kình."
"Dạ."
"Cậu nói chuyện với thần bằng gì?"
Kình ngồi im. Nó nghe thầy Đức ngoài mũi thuyền, nghe sổ khẽ động.
"Bằng miệng, thưa ông."
Thạc quay lại. Ông nhìn nó một lát, rồi gật.
Ông ngồi xuống, mở sổ, nhúng bút. Ông ghi đúng ba chữ đó vô trang giấy, dưới dòng khẩu phần. Ông dừng bút. Ông kẻ một nét thẳng, chậm, dưới ba chữ.
Nét gạch chân khô dần dưới ánh đèn.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 18 →