Từ con dốc nhìn thấy sông Cái, Kình còn chèo phụ cho một ghe chở than xuôi thêm mấy ngày mới về tới cái bến này. Bến sông Cái. Năm ngoái, sáng mồng hai tháng Ba, thầy Đức tháo mái chèo khỏi ghe ở đây, gửi ghe cho thằng cháu bà Tư Hến, rồi bước lên thuyền Giám. Đầu bến có cây cột gỗ người ta vẫn dán cáo thị.
Giờ trên cột có thêm một tờ giấy trắng mới. Hồ còn ướt, mép giấy chưa khô, gió sông thổi phập phồng một góc.
Kình chen vào đám đông. Mái chèo trên vai nó quẹt vào nón một bà gánh rau, bà quay lại lườm. Nó cúi đầu xin lỗi, hạ mái chèo xuống, dựng cán xuống đất cạnh chân, tay vịn.
Người ta đứng quanh cái cột, đông mà không ai đọc. Có người nhìn tờ giấy rồi đi. Có người nhìn rồi hỏi người bên cạnh, người bên cạnh lắc đầu.
Kình đứng trước tờ giấy.
Nó đọc. Ngón tay trỏ dò dưới từng chữ. Không ai đọc giùm. Không ai cầm tay chỉ.
Sùng Văn Giám yết. Truy nã tội phạm gọi chui, tên Kình, không họ.
Dòng dưới ghi tội. Dòng dưới nữa ghi ai bắt được thì nộp về đâu, thưởng bao nhiêu quan. Nó đọc hết. Đọc chậm, không sót chữ nào.
Dưới cùng tờ yết, chỗ dành cho dấu nhận dạng, là một ô vuông son đỏ. Bốn cạnh thẳng. Giữa trống trơn.
Nó biết ô vuông đó. Nó đóng ô vuông đó lên tờ giấy ký nhận ở hiên nhà ngoại, chiều hôm thầy Đức đưa lệnh. Ai đó ở Thăng Long đã in lại nó, đúng cỡ, đúng màu, lên tờ giấy này.
"Cậu kia."
Một bà bán cá đứng cạnh nó, nón lá, đòn gánh trên vai, hai thúng cá rô còn quẫy. Bà hất cằm về phía tờ giấy.
"Cậu biết chữ thì đọc giùm coi ghi gì."
Kình nhìn bà. Rồi nhìn tờ giấy.
"Dạ, con đọc."
"Giọng cậu miền trong à?"
"Dạ, con người miệt dưới."
"Miệt dưới mà biết chữ." Bà nhìn cái mái chèo. "Lại vác mái chèo. Ghe đâu?"
"Dạ, ghe con gửi người ta trông. Con đi tìm."
"Tìm ghe mà đứng đọc giấy." Bà hất cằm lần nữa. "Đọc đi. Tôi còn bán cá."
Nó đọc to. Giọng đều, không nhanh không chậm, như hồi ngồi chợ chép thư hộ ở Vàm Tre, đọc lại cho người ta nghe trước khi niêm.
"Sùng Văn Giám yết. Truy nã tội phạm gọi chui, tên Kình, không họ."
Nó đọc tên mình. Giọng không đổi.
Nó đọc tiếp dòng tội. Đọc chỗ thưởng. Đọc hết.
Bà bán cá nghe, gật gù. "Gọi chui là tội gì?"
"Dạ, là gọi thần mà không có giấy."
"Ối giời. Thế thì làng tôi ai cũng tội." Bà chép miệng. "Bà tôi khấn ông Thổ cả đời, có giấy má gì đâu."
"Dạ."
Bà nheo mắt nhìn xuống chỗ ô vuông. "Còn cái ô đỏ kia là cái gì?"
"Dạ, dấu nhận dạng."
"Dấu gì mà trống không?"
"Dấu của người không có tên."
Bà bán cá nhìn ô vuông thêm một lúc. Rồi bà chép miệng lần nữa, kê lại đòn gánh lên vai.
"Không tên thì bắt ai."
"Dạ, con cũng không biết."
"Giám bày trò." Bà ngó tờ giấy, ngó Kình. "Cậu đọc hay đấy. Ở đây có ông đồ đọc thư thuê, đọc một lá mất hai đồng. Cậu đọc không lấy tiền à?"
"Dạ, không lấy."
"Thế thì cậu dại." Bà nhấc một con cá rô trong thúng, giơ ra. "Cầm lấy. Tiền công."
"Dạ, con không lấy đâu bà."
"Cầm. Cá chết thì tôi cũng vứt."
Kình đưa tay cầm. Con cá quẫy một cái trong lòng bàn tay nó, rồi nằm im.
Bà đi. Hai thúng cá lắc lư, nước rỉ xuống đường đất. Bà không nhìn lại.
Người xung quanh nghe Kình đọc xong cũng tản dần. Không ai nhìn nó lâu. Một thằng nhỏ cởi trần ngó cái mái chèo của nó, rồi chạy đi.
Cộc trên vai nó ghé sát tai, nói nhỏ.
"Mày đọc hay hơn thằng Uẩn."
"Tại con đọc quen tên con."
"Thằng Uẩn đọc tên mày run."
"Ổng sợ núi."
"Ổng sợ mày."
"Ổng sợ con làm chi. Con có làm gì ổng."
"Thì vì mày không làm gì." Cộc ngó con cá rô trong tay nó. "Cá đó mày tính sao?"
"Nướng. Chia cha một nửa."
"Nửa đầu."
"Cha ăn đầu hả?"
"Đầu cá rô ngon nhất. Ngoại mày nói vậy."
Kình nhìn tờ yết. Nó nhìn chữ Kình, nét bộ ngư bên trái, con cá. Thư lại nào đó ở Thăng Long viết chữ đó đẹp hơn nó viết.
"Cha."
"Gì."
"Dòng không rõ của cha còn không?"
Cộc không trả lời liền. Nó nhìn ra sông, nhìn về phía nam, phía miệt dưới.
"Còn," nó nói. "Lão Táo giữ."
"Lão giữ tới chừng nào?"
"Tới chừng nào lão còn không lên." Cộc chùi mũi. "Mày còn thì tao còn."
Kình gật.
Nó đứng thêm một lúc trước tờ yết. Nó không xé. Nó không chạm vào tờ giấy. Hồ ướt dưới góc giấy rỉ xuống thân cột thành một vệt dài.
Tay trái nó đưa ra sau, sờ cái bọc vải nâu giắt lưng. Hai nút chỉ đỏ còn chặt. Dưới mấy lớp vải, cạnh vuông của con dấu sừng trắng cấn vào lòng bàn tay.
Nó nghĩ tới từng thứ. Như đếm đồ trong bọc. Tờ sắc của Giám đóng bốn cái đinh trên phiến đá đèo Khau Lồm. Dải vải đỏ trên đầu Piên. Cái ấn gỗ có núm ông Tào đặt vào hai bàn tay cô. Dòng chữ không rõ trong sổ bếp nhà ngoại, chưa ai xóa. Cái ô vuông trống dưới chân tờ yết.
Nó đếm hết. Nó không cộng lại.
Bên kia bến, một chiếc ghe tam bản đang chậm chạp ghé vào bờ. Mũi ghe vẽ hai con mắt, tròng đen, viền đỏ, mở to nhìn xuôi dòng. Trong khoang chất đầy gỗ xẻ, từng tấm ván mới còn trắng thớ. Gió sông thổi qua, mang theo mùi mùn cưa, thơm, hăng, lạ giữa mùi cá với mùi bùn.
Người đàn ông đứng ở mũi ghe cầm sào. Ông không chống sào. Ông đứng yên, nhìn sang bên này sông.
Nhìn đúng chỗ cây cột, chỗ tờ yết.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.