Bản chèo vướng vào một cành sim, kéo Kình giật ngược lại. Nó nghiêng người, xoay cán chèo cho bản dẹt luồn qua kẽ cành, rồi bước tiếp.
Lối mòn mé đông hẹp, cỏ tranh cao quá đầu. Đi một quãng lại phải nghiêng, phải xoay, phải lách. Cái mái chèo dài hơn nó, cứng đầu như một con trâu không chịu quẹo.
Ông thần đèo không nói gì thêm từ lúc chỉ đường. Nó không xin. Ông tự chỉ. Lúc nó ngoái lại ở khúc quanh đầu tiên, phiến đá trên đèo đã trống, chỉ còn tờ giấy với bốn cái đinh.
"Ổng không nói gì hết," Kình nói.
"Ổng chỉ là được rồi," Cộc nói. "Thần già ít lời."
"Cha cũng già mà cha nói nhiều."
"Tao đâu phải thần."
Ba ngày xuống núi.
Đêm ngủ trong hốc đá, lưng dựa vách, mái chèo gác ngang trước mặt như cây gậy chặn cửa. Sáng thứ hai nó mới để ý dưới xâu ớt khô ở đầu cán chèo có buộc một cái túi vải chàm nhỏ. Nút buộc thắt hai vòng rồi giắt mối vào trong, nút của Piên. Trong túi có ba nắm cơm gói lá dong, nén chặt, rắc muối vừng. Nó không biết Piên buộc vào lúc nào.
Nó ăn một nắm, chia Cộc một nửa.
"Con nhỏ nắm cơm chặt quá," Cộc nói, nhai. "Muối mặn."
"Cha chê hả?"
"Không chê. Nói cho biết."
Trưa ngày thứ ba, Cộc kể chuyện con cá linh lần thứ ba.
"Con đó lớn bằng bắp tay."
"Lần trước cha nói bắp tay. Lần này phải lớn hơn."
"Lần này nó lớn bằng bắp chân."
"Bắp đùi rồi, Cộc. Mỗi lần kể nó lớn thêm."
"Cá linh mà. Nó lớn theo mùa nước."
"Vậy năm sau nó lớn bằng cái ghe."
"Năm sau mày về kể cho thằng Toòng. Nó tin."
Kình cười, cười tới mái chèo trên vai lắc lư, bản chèo quẹt vào một gốc cây. Rồi nó thôi cười.
Bến Rộc Chiêng lúc sáng sớm. Sương còn đặc trên mặt sông Nặm Lin, mấy chiếc thuyền buôn buộc vào cọc tre. Ở xóm trên có tiếng chiêng đám vọng xuống, đều, trầm, từng hồi một. Kình nghe. Nó biết tiếng chiêng đó. Nó không ghé.
Một ông lái thuyền người Kinh đang chất mấy bao muối xuống khoang. Ông ngẩng lên thấy nó, thấy cái mái chèo trên vai nó trước.
"Mái chèo tốt đấy. Gỗ gì?"
"Dạ, con không biết. Của thầy con."
"Đi đâu?"
"Dạ, xuôi."
"Tôi xuôi tới ghềnh lớn thôi. Mùa này ghềnh cạn, không qua được." Ông lái nhìn nó từ đầu tới chân. "Có tiền không?"
"Dạ, hai tiền."
"Chèo phụ thì tôi lấy một."
Kình bước xuống thuyền. Nó đặt cán mái chèo vào cái cọc chèo đuôi thuyền. Vừa khít. Như mái chèo vốn của thuyền này.
"Mái chèo của ai mà vừa thế?" ông lái hỏi.
"Dạ, của thầy con. Thầy con chèo ghe miệt dưới."
"Thầy cậu chèo khá chứ?"
"Thầy chèo từ Vàm Tre ra Thăng Long."
Ông lái nhếch mép, lắc đầu, không hỏi thêm, cởi dây khỏi cọc.
Nó chèo. Nửa ngày xuôi Nặm Lin, ghềnh nhỏ nào cũng phải xuống đẩy thuyền. Mái chèo nặng, mà khi xuống nước thì nhẹ hẳn, như cái ghe nhà ai đó cuối cùng cũng về đúng chỗ. Nó chèo kiểu miệt dưới, ông lái chê, rồi thôi chê.
Chiều trên thuyền, ông lái nằm trong khoang, hỏi vọng ra.
"Cậu xuống xuôi làm gì?"
"Dạ, trả mái chèo."
"Trả cho ai?"
"Cho cái ghe của thầy con."
"Ghe ở đâu?"
"Ở sông Cái. Thầy gửi người ta trông."
"Thế thầy cậu đâu?"
"Thầy ở trên núi. Thầy ngủ."
Ông lái cười khục khục trong khoang. "Thầy ngủ mà trò đi trả mái chèo. Thầy trò nhà cậu lạ."
Kình không trả lời. Nó nằm ngửa trên mui, mái chèo kê dưới đầu.
Ghềnh lớn trơ đá, nước chảy rỉ qua kẽ. Ông lái quay mũi thuyền vào bờ, chìa tay. Kình đếm một tiền vào lòng bàn tay ông.
"Tôi về. Cậu đi bộ men núi. Dưới kia có thuyền khác."
"Dạ, cảm ơn ông."
Kình đứng trên bãi đá, mái chèo trên vai, nhìn chiếc thuyền quay ngược lên. Nó đứng nhìn lâu.
"Ổng chèo cái ghe của ổng từ miệt dưới ra Thăng Long," Cộc nói. "Rồi gửi nó ở bến sông Cái, vác cái này lên núi."
"Con biết."
"Mái chèo đó ổng cầm mười mấy năm."
"Con biết, cha." Kình đổi vai. "Cộc. Cộc ngồi yên."
Nó đi bộ men núi.
Chiều ngày thứ tư, nó đang men theo vách đá phía dưới ghềnh thì nghe tiếng lục lạc. Tiếng chuông đồng nhỏ, khua đều theo nhịp chèo. Nó biết tiếng đó từ hồi ở Vàm Tre. Ghe thư của Giám.
Kình nằm rạp xuống sau một tảng đá, kéo mái chèo nằm theo. Cộc rúc vào cổ áo nó.
Chiếc ghe thư nhỏ, mui lá, lướt qua dưới ghềnh, nhanh, xuôi theo dòng về phía sông Cái. Người chèo áo chàm không ngẩng đầu. Tiếng lục lạc nhỏ dần, nhỏ dần.
Kình nằm im cho tới khi không còn nghe gì nữa. Rồi nằm thêm một lúc.
"Giám đi nhanh hơn mày," Cộc nói.
"Giám có ghe. Tui có mái chèo."
"Mái chèo không có ghe thì đi bộ."
"Thì đi bộ."
"Mày đi bộ tới chừng nào?"
"Tới chỗ cái ghe."
"Rồi có ghe rồi mày đi đâu?"
Kình đứng dậy, phủi đất trên áo, kê mái chèo lại lên vai.
"Tới đó rồi tính, Cộc. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó."
Sáng ngày thứ sáu, nó leo lên con dốc cuối cùng. Chân nó phồng hai chỗ, vai phải hằn một vệt đỏ dài theo cán chèo. Đứng trên đỉnh dốc, nó nhìn xuống.
Sông Cái nằm dưới kia. Rộng, đục, chảy chậm, màu phù sa. Cái bến đông người, ghe thuyền đậu san sát, khói bếp quán cơm bốc lên từ dãy mái lá dọc bờ.
Nội dung thuộc bản quyền © TruyệnCủaAI. Nghiêm cấm sao chép, đăng tải lại hoặc phân phối dưới mọi hình thức khi chưa được phép.
Chương 104 →